Khóa luận tốt nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty tnhh thực phẩm an toàn busa trên thị trường bắc ninh

Khóa luận phân tích nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty TNHH thực phẩm an toàn Busa tại thị trường Bắc Ninh, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Trường Đại học Thương Mại

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

54
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM LƯỢC

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài

0.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan

0.3. Đối tượng, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1.1. Khái niệm cạnh tranh

1.1.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh

1.1.3. Một số lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.1.3.1. Một số lý thuyết về cạnh tranh
1.1.3.2. Một số lý thuyết về năng lực cạnh tranh

1.2. Nội dung và nguyên lý nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.4. Chính sách và công cụ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH THỰC PHẨM AN TOÀN BUSA TRÊN THỊ TRƯỜNG BẮC NINH

2.1. Tổng quan tình hình và các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

2.1.1. Tổng quan tình hình năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

2.1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Công ty Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

2.2. Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

2.2.1. Nguồn nhân lực

2.2.2. Trình độ công nghệ sản xuất

2.2.3. Chủng loại và chất lượng sản phẩm

2.2.4. Giá thành sản phẩm

2.3. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

2.3.1. Những thành công

2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

3. CHƯƠNG 3: CÁC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY TNHH THỰC PHẨM AN TOÀN BUSA TRÊN THỊ TRƯỜNG BẮC NINH

3.1. Quan điểm và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

3.1.1. Quan điểm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

3.1.2. Định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

3.2. Các đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

3.2.1. Giải pháp về nâng cao nguồn lực tài chính

3.2.2. Giải pháp về nâng cao thị phần

3.2.3. Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

3.2.4. Giải pháp về công nghệ

3.2.5. Giải pháp về đa dạng hóa chủng loại và nâng cao chất lượng sản phẩm

3.2.6. Giải pháp về hạ giá thành sản phẩm

3.3. Các kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa trên thị trường Bắc Ninh

3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước

3.3.2. Kiến nghị với UBND tỉnh Bắc Ninh

3.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của công ty thực phẩm Busa

Năng lực cạnh tranh là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh hiện đại. Công ty TNHH Thực phẩm an toàn Busa, với sứ mệnh cung cấp thực phẩm an toàn và chất lượng, đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc hiểu rõ về năng lực cạnh tranh sẽ giúp công ty xác định được vị trí của mình trên thị trường và tìm ra các giải pháp phù hợp.

1.1. Khái niệm và vai trò của năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh được định nghĩa là khả năng của một doanh nghiệp trong việc cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ tốt hơn so với đối thủ. Điều này không chỉ bao gồm chất lượng sản phẩm mà còn cả giá cả, dịch vụ khách hàng và khả năng đổi mới. Năng lực cạnh tranh cao giúp công ty thu hút khách hàng và tăng trưởng doanh thu.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh

Năng lực cạnh tranh của công ty thực phẩm Busa bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chất lượng sản phẩm, giá thành, dịch vụ khách hàng, và khả năng quản lý. Đặc biệt, trong ngành thực phẩm, yếu tố an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm là rất quan trọng.

II. Thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Busa

Công ty Busa đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ lớn, cùng với những biến động của thị trường, đã tạo ra áp lực lớn cho công ty. Việc nhận diện và phân tích các thách thức này là rất cần thiết để tìm ra giải pháp hiệu quả.

2.1. Cạnh tranh từ các đối thủ lớn

Thị trường Bắc Ninh có nhiều công ty lớn hoạt động lâu năm, với nguồn lực tài chính mạnh và mạng lưới phân phối rộng. Điều này tạo ra áp lực lớn cho Busa trong việc duy trì thị phần và phát triển.

2.2. Tác động của đại dịch Covid 19

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của Busa. Nhu cầu giảm sút, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, và nhiều khách hàng chậm thanh toán đã làm giảm doanh thu của công ty.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho Busa

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, công ty Busa cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Những giải pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn tối ưu hóa quy trình sản xuất và quản lý.

3.1. Đổi mới công nghệ sản xuất

Công nghệ sản xuất hiện đại giúp nâng cao chất lượng sản phẩm và giảm chi phí. Busa cần đầu tư vào công nghệ mới để cải thiện quy trình sản xuất và tăng năng suất lao động.

3.2. Tăng cường quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng là yếu tố then chốt trong ngành thực phẩm. Busa cần xây dựng hệ thống quản lý chất lượng chặt chẽ để đảm bảo sản phẩm luôn đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Busa

Việc áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đã mang lại những kết quả tích cực cho công ty Busa. Nghiên cứu cho thấy rằng, việc cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ khách hàng đã giúp công ty tăng trưởng doanh thu và củng cố vị thế trên thị trường.

4.1. Kết quả từ việc cải tiến quy trình sản xuất

Sau khi áp dụng công nghệ mới, Busa đã giảm được thời gian sản xuất và tăng năng suất lao động. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao chất lượng sản phẩm.

4.2. Phản hồi từ khách hàng

Khách hàng đã có những phản hồi tích cực về chất lượng sản phẩm và dịch vụ của Busa. Sự hài lòng của khách hàng là yếu tố quan trọng giúp công ty duy trì và phát triển thị phần.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho Busa

Nâng cao năng lực cạnh tranh là một quá trình liên tục và cần sự nỗ lực không ngừng từ công ty Busa. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng sản phẩm, mở rộng thị trường và phát triển bền vững.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Busa cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, tập trung vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao trách nhiệm xã hội. Điều này không chỉ giúp công ty phát triển mà còn tạo dựng hình ảnh tích cực trong mắt khách hàng.

5.2. Tăng cường hợp tác và liên kết

Hợp tác với các đối tác chiến lược và các tổ chức trong ngành thực phẩm sẽ giúp Busa mở rộng mạng lưới phân phối và nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc này cũng giúp công ty học hỏi và áp dụng những kinh nghiệm tốt từ các đối thủ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Khóa luận tốt nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty tnhh thực phẩm an toàn busa trên thị trường bắc ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh “Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản. Điểm lại các lý thuyết cạnh tranh trong lịch sử có thể thấy hai trường phái tiêu biểu: Trường phái cổ điển và trường phái hiện đại.

Trường phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu như Adam Smith, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có những đóng góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh sau này. Trường phái hiện đại với hệ thống lý thuyết đồ sộ với 3 quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại diện là trường phái Chicago và Harvard; tiếp cận tâm lý với đại diện là Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc học phái Viên; tiếp cận “cạnh tranh hoàn hảo” phát triển lý thuyết của Tân cổ điển. Như vậy, cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có nhiều cách quan niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau: i) Theo một định nghĩa được A. Lobe đưa ra từ gần một thế kỷ nay có thể hiểu cạnh tranh là sự cố gắng của hai hay nhiều người thông qua những hành vi và khả năng nhất định để cùng đạt được một mục đích.

ii) Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm công việc của mình một cách chính xác. Ngược lại, chỉ có mục đích lớn lao nhưng lại không có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khả năng tạo ra được bất kỳ sự cố gắng lớn nào. Như vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự nỗ lực chủ quan của con người, góp phần làm tăng của cải của nền kinh tế. iii) Khi nghiên cứu về cạnh tranh, K.

Marx cho rằng “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhucanh tranhận siêu ngạch” iv) Kinh tế học của P. Samuelson định nghĩa: “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp” v) Từ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”, tức là nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của người khác. vi) Theo Từ điển Bách khoa của Việt Nam thì “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. 6 vii) Theo các tác giả của cuốn Các vấn đề pháp lý về thể chế, về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được mục tiêu kinh doanh cụ thể”.

Ở Việt Nam, khi đề cập đến “cạnh tranh” người ta thường là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ mua bán và đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế. Trên quy mô toàn xã hội, cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và do đó nó trở thành động lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dẫn đến yếu tố thúc đẩy quá trình tích lũy và tập trung tư bản không đồng đều ở các doanh nghiệp. Mặc dù có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể rút ra những nét chung về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua giữa một (hoặc một nhóm) người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự.

Cạnh tranh nâng cao vị thế của người này và làm giảm vị thế của những người còn lại. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một sản phẩm dịch vụ, một dự án hay một thị trường, một khách hàng.) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm (tổ chức các kênh tiêu thụ); cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán… 1. Khái niệm năng lực cạnh tranh Hiện nay, các thuật ngữ “năng lực cạnh tranh”, “sức cạnh tranh” và “khả năng cạnh tranh” được sử dụng nhiều ở Việt Nam, trong khi thông dụng trong tiếng Anh đều được sử dụng là “competitiveness”, cho nên chúng cùng chung một nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau.

Một định nghĩa chính xác cho khái niệm này đến nay là vấn đề gây nhiều tranh luận. Porter, hiện chưa có một định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến. Dưới đây là một số định nghĩa về năng lực cạnh tranh: 7 i) Đối với các lãnh đạo doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh có nghĩa là sức cạnh tranh trên thị trường thế giới nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu mà có được. ii) Trong Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”.

Nguyên nhân dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về năng lực cạnh tranh do quan niệm khác nhau: i) Theo M.Porter thì năng lực cạnh tranh chỉ có nghĩa khi xem xét ở cấp độ quốc gia là năng suất. ii) Theo Krugman thì năng lực cạnh tranh ít nhiều chỉ phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp vì ranh giới cận dưới ở đây rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì hiện tại hoặc sau này sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản. Do vậy, khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh người ta thường xem xét, phân biệt năng lực cạnh tranh theo 4 cấp độ: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Một số lý thuyết về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1.

Một số lý thuyết về cạnh tranh a) Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản, một xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường và là động lực phát triển của nền kinh tế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi. Một mặt nó đào thải không thương tiếc các doanh nghiệp có mức chi phí cao, sản phẩm có chất lượng kém. Mặt khác, nó buộc tất cả các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu để giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, dịch vụ đồng thời tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ để tồn tại và phát triển trên thị trường.

Do vậy, cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp phải tăng cường năng lực cạnh tranh của mình, đồng thời thay đổi mối tương quan về thế và lực để tạo ra các ưu thế trong cạnh tranh. Vì thế, cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có vai trò tích cực: Thứ nhất, đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh, cạnh tranh tạo áp lực buộc họ phải thường xuyên tìm tòi sáng tạo, cải tiến phương pháp sản xuất và tổ chức quản lý kinh doanh, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học – kĩ thuật, phát triển sản phẩm mới, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Qua đó nâng cao trình độ của công nhân và các nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp. Mặt khác, cạnh tranh sàng lọc khách quan đội ngũ những người thực sự không có khả năng thích ứng với sự thay đổi của thị trường.

8 Thứ hai, đối với người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra một áp lực liên tục đối với giá cả, buộc các doanh nghiệp phải hạ giá bán để nhanh chóng bán được sản phẩm, qua đó người tiêu dùng được hưởng các lợi ích từ việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cung cấp sản phẩm, dịch vụ. Mặt khác, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải mở rộng sản xuất, đa dạng hóa về chủng loại, mẫu mã vì thế người tiêu dùng có thể tự do lựa chọn theo nhu cầu và thị hiếu của mình. Thứ ba, đối với nền kinh tế, cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng và tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, qua đó góp phần tiết kiệm các nguồn lực chung của nền kinh tế. Mặt khác, cạnh tranh cũng tạo ra áp lực buộc các doanh nghiệp phải đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, sử dụng lao động có hiệu quả, tăng năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân.

Thứ tư, đối với quan hệ đối ngoại, cạnh tranh thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng thị trường ra khu vực và thế giới, tìm kiếm thị trường mới, liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài, qua đó tham gia sâu vào phân công lao động và hợp tác kinh tế quốc tế, tăng cường giao lưu vốn, lao động, khoa học công nghệ với các nước trên thế giới. Bên cạnh các mặt tích cực của cạnh tranh, luôn tồn tại các mặt còn hạn chế, những khó khăn trở ngại đối với các doanh nghiệp mà không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có thể vượt qua. Trên lý thuyết, cạnh tranh sẽ mang đến sự phát triển theo xu thế lành mạnh của nền kinh tế thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ