Tổng quan nghiên cứu

Đến năm 2013, diện tích trồng thanh long tại tỉnh Bình Thuận đã chạm mốc 20.185 ha, vượt hơn 33,7% so với mức quy hoạch được duyệt đến năm 2015 là 15.087 ha, cung ứng sản lượng vượt mức 400.000 tấn mỗi năm. Mặc dù cây thanh long đóng góp trên 10% tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) và giúp tỷ lệ hộ nghèo nông thôn giảm mạnh xuống mức 4,4%, ngành hàng chủ lực này đang bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Sự phát triển tự phát dẫn đến tình trạng khủng hoảng thừa cục bộ, thiếu hụt điện nước trầm trọng trong mùa chong đèn trái vụ, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật và phụ thuộc tới 80% đến 85% sản lượng vào thị trường Trung Quốc qua đường tiểu ngạch.

Trước bối cảnh cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia trong khu vực, mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của cụm ngành thanh long Bình Thuận, từ đó đề xuất hệ thống chính sách công thực thi nhằm tái định vị chuỗi giá trị nông sản địa phương. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 vùng trọng điểm sản xuất gồm Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình và thành phố Phan Thiết, đồng thời khảo sát các đơn vị nghiên cứu, chiếu xạ và logistics tại Thành phố Hồ Chí Minh và Tiền Giang, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp kéo dài từ năm 2005 đến năm 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi đưa ra giải pháp giải tỏa nguồn lực lãng phí hơn 616 tỷ đồng trong đầu tư lưới điện hạ thế và nâng tỷ lệ diện tích đạt tiêu chuẩn GlobalGAP từ mức 1,1% hiện tại lên quy mô thương mại hóa bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Mô hình Kim cương (Diamond Model) của Michael E. Porter, được phát triển mở rộng bởi Ketels và chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh năm 2011, làm khung phân tích chủ đạo. Mô hình tập trung mổ xẻ 4 nhóm yếu tố tương tác hữu cơ:

  • Điều kiện về nhân tố sản xuất (đất đai, nguồn nhân lực, hạ tầng điện nước, nghiên cứu và phát triển).
  • Điều kiện về cầu (thị hiếu nội địa, tiêu chuẩn chất lượng khắt khe từ các thị trường phát triển).
  • Bối cảnh chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp (môi trường kinh doanh, cấu trúc ngành, áp lực từ đối thủ trong và ngoài nước).
  • Các ngành hỗ trợ và liên quan (dịch vụ logistics, công nghệ chiếu xạ, xử lý nhiệt hơi nước nóng, công nghiệp đóng gói và chế biến).

Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp Lý thuyết Thể chế kinh tế dung hợp của Daron Acemoglu và James A. Robinson nhằm luận giải cơ chế chia sẻ lợi ích, tính minh bạch thông tin và vai trò kiến tạo của chính quyền địa phương. Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt nghiên cứu gồm: Cụm ngành (Industry Cluster), Năng lực cạnh tranh (Competitiveness), Thực hành nông nghiệp tốt (Good Agricultural Practices - GAP) và Chuỗi giá trị nông sản toàn cầu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính chuyên sâu kết hợp phân tích đối chiếu dữ liệu thứ cấp. Cỡ mẫu sơ cấp bao gồm 20 hộ nông dân canh tác với quy mô đa dạng từ dưới 1 ha đến trên 10 ha tại 4 địa bàn trọng điểm (Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc, Bắc Bình, Phan Thiết) và 5 doanh nghiệp lớn đại diện cho khối thu mua, đóng gói, xử lý nhiệt xuất khẩu. Tác giả cũng trực tiếp khảo sát, phỏng vấn sâu các chuyên gia tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hiệp hội Thanh long Bình Thuận, Trung tâm Nghiên cứu phát triển cây thanh long và Viện Cây ăn quả miền Nam.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng để đảm bảo bao quát đầy đủ các mắt xích trong chuỗi cung ứng, từ nông hộ sản xuất nhỏ lẻ đến các trang trại lớn đạt chuẩn quốc tế. Lý do lựa chọn phương pháp định tính thông qua phỏng vấn bán cấu trúc dạng đối thoại mở là nhằm tiếp cận sâu sát tâm lý canh tác, hành vi sử dụng hóa chất và những rào cản thể chế vô hình mà các bảng hỏi định lượng thông thường khó phản ánh chính xác. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê giai đoạn 2005 - 2012, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) và chỉ số hiệu quả quản trị hành chính công (PAPI) giai đoạn 2011 - 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diện tích canh tác thanh long mở rộng nhanh từ năm 2005 đến năm 2013 đạt 20.185 ha nhưng năng suất bình quân lại suy giảm rõ rệt từ mức 22 tấn/ha xuống dưới 18 tấn/ha. Toàn tỉnh hiện có hơn 8.500 trạm biến áp phục vụ chong đèn trái vụ tiêu thụ 300 triệu kWh điện mỗi năm, song ngành điện lực buộc phải tiết giảm 50% công suất trạm biến áp, dẫn đến lãng phí đầu tư xã hội ước tính hơn 616 tỷ đồng.

Thứ hai, mức độ tinh vi trong chuỗi giá trị ở mức rất thấp khi chỉ có 10 đơn vị với 222,7 ha đạt chuẩn GlobalGAP (chiếm vỏn vẹn 1,1% tổng diện tích), trong khi 80% đến 85% sản lượng phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường Trung Quốc. Giá thu mua thanh long đạt chứng nhận VietGAP bị thương lái cào bằng với thanh long thường, khiến chỉ còn khoảng 10% số hộ duy trì quy trình an toàn.

Thứ ba, các ngành hỗ trợ thiếu đồng bộ và chi phí dịch vụ quá cao. Chi phí chiếu xạ tại Việt Nam lên tới 1 USD/kg, gấp hơn 4 lần so với mức 0,24 USD/kg của Thái Lan; cước vận tải biển cao hơn 10% đến 15% so với khu vực; toàn tỉnh mới chỉ có 2 nhà máy xử lý nhiệt bằng hơi nước nóng (Hồng Ân với công suất 4.200 tấn/năm và Fine Fruit Asia) và hầu như vắng bóng các cơ sở chế biến sâu.

Thứ tư, chỉ số PAPI giai đoạn 2011 - 2013 của Bình Thuận ghi nhận điểm số tham gia của người dân ở cấp cơ sở chỉ đạt từ 4,32 đến 4,98 điểm; chỉ số PCI luôn nằm ở nhóm trung vị (thấp hơn Long An và Tiền Giang), phản ánh sự lỏng lẻo trong liên kết giữa nông dân, doanh nghiệp và chính quyền.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên phản ánh rõ nét hiện tượng thất bại thị trường và "cuộc đua xuống đáy". Khi nông sản an toàn không được định giá tương xứng với chi phí bỏ ra (chi phí trồng theo GlobalGAP tăng thêm khoảng 80 triệu đồng/ha), người nông dân có xu hướng quay lại lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật để tối đa hóa sản lượng ngoại quan, phục vụ thị trường dễ tính.

Khi đối chiếu với các đối thủ cạnh tranh, Thái Lan đang vượt trội về chỉ số hiệu quả logistics (đạt 3,18 so với 3,0 của Việt Nam) và kiểm soát thị trường xuất khẩu vào châu Âu, trong khi Trung Quốc đã chủ động quy hoạch hàng chục dự án trồng thanh long hàng trăm hecta tại Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam nhằm thay thế hàng nhập khẩu.

Toàn bộ hiện trạng này có thể được trực quan hóa thông qua Sơ đồ cụm ngành Porter (Cluster Map) phân tầng mối liên kết giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, kết hợp biểu đồ radar so sánh các chỉ số thành phần PCI và PAPI qua các năm để làm nổi bật những nút thắt thể chế kìm hãm chuỗi giá trị nông nghiệp địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cấp toàn diện năng lực cạnh tranh cho cụm ngành thanh long Bình Thuận, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Nâng cấp hạ tầng mềm và đẩy mạnh R&D (Giai đoạn 2014 - 2016): Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Viện Cây ăn quả miền Nam tiếp nhận chuyển giao và thương mại hóa các giống thanh long mới (như giống tím hồng LĐ5 đạt năng suất 30 - 40 tấn/ha); giao Trung tâm Nghiên cứu phát triển thanh long vận hành nền tảng số cập nhật giá cả thị trường hàng ngày nhằm xóa bỏ tình trạng bất cân xứng thông tin cho hơn 20.000 hộ trồng.
  • Hiện đại hóa hạ tầng cứng và tối ưu hóa năng lượng (Giai đoạn 2015 - 2018): UBND tỉnh Bình Thuận đề xuất cơ chế giá mua điện hợp lý để phát huy công suất 30 MW của nhà máy phong điện Tuy Phong; áp dụng mô hình đối tác công tư (PPP) để bê tông hóa 100% đường giao thông nội đồng có bề rộng dưới 3m, nâng tỷ lệ đường xã đạt chuẩn nông thôn mới từ 35% lên 70%.
  • Thiết lập cơ chế tín dụng chuỗi giá trị chuyên biệt (Thực hiện từ đầu năm 2015): Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Bình Thuận chủ trì xây dựng quy chế cho vay linh hoạt, chấp nhận thế chấp bằng tài sản vườn cây và chu kỳ thu hoạch; cung cấp hạn mức tín dụng ưu đãi 80 triệu đồng/ha hỗ trợ nông dân bù đắp chi phí chuyển đổi sang tiêu chuẩn GlobalGAP.
  • Phân nhóm nguồn cung và tái cơ cấu thị trường xuất khẩu (Lộ trình 2015 - 2020): Hiệp hội Thanh long Bình Thuận giữ vai trò đầu mối điều phối, phân tách cụm ngành thành 2 phân khúc rõ rệt: Nhóm tiên phong (chiếm 30% diện tích) tập trung sản xuất đạt chuẩn GlobalGAP để chinh phục các thị trường giá trị cao như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản; Nhóm phổ thông phục vụ thị trường nội địa và cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến sâu, phấn đấu giảm tỷ trọng xuất khẩu tiểu ngạch xuống dưới mức 40%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và khung phân tích của luận văn mang lại giá trị thực tiễn chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học để rà soát quy hoạch 15.000 ha thanh long, điều chỉnh chính sách khuyến nông và thiết lập khung pháp lý giám sát thương nhân nước ngoài.
  • Doanh nghiệp xuất khẩu và đơn vị logistics: Các giám đốc điều hành doanh nghiệp nông sản khai thác dữ liệu về chi phí kiểm dịch, chiếu xạ (1 USD/kg) và rào cản kỹ thuật tại thị trường Hoa Kỳ, Hàn Quốc để xây dựng chiến lược đàm phán hợp đồng chính ngạch và đầu tư kho lạnh công nghệ cao.
  • Giới học thuật và chuyên gia kinh tế phát triển: Giảng viên, học viên cao học chuyên ngành Chính sách công và Kinh tế nông nghiệp có thể tham khảo phương pháp luận ứng dụng Mô hình Kim cương Porter mở rộng vào việc phân tích cụm ngành nông sản cấp địa phương.
  • Hợp tác xã và chủ trang trại quy mô lớn: Ban quản trị các hợp tác xã tham khảo mô hình liên kết nhóm tiên phong, định toán chi phí chứng nhận 27 triệu đồng/ha GlobalGAP để chủ động tổ chức sản xuất an toàn theo đơn đặt hàng quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nông dân Bình Thuận chưa mặn mà mở rộng diện tích đạt chuẩn GlobalGAP? Chi phí đầu tư ban đầu cho GlobalGAP khá cao, tăng thêm khoảng 80 triệu đồng/ha, trong đó chi phí đào tạo và đánh giá chứng nhận lên tới 27 triệu đồng/ha cho chu kỳ 3 năm. Trong khi đó, quy mô canh tác bình quân chỉ khoảng 1 ha/hộ và đầu ra chưa ổn định, khiến giá thu mua sản phẩm sạch thường bị thương lái cào bằng với sản phẩm truyền thống.

Việc phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc tạo ra những rủi ro kinh tế cụ thể nào? Khoảng 80% đến 85% sản lượng được xuất sang Trung Quốc chủ yếu bằng đường tiểu ngạch với hợp đồng đối phó. Sau 2 ngày vận chuyển đường bộ đến cửa khẩu Tân Thanh (chi phí 92 - 93 triệu đồng/container), doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn ở thế bị động và dễ bị ép giá khi đối tác trở mặt hoặc thay đổi chính sách biên mậu.

Giải pháp nào giúp khắc phục triệt để tình trạng thiếu điện chong đèn trái vụ? Chính quyền tỉnh cần kiến nghị Bộ Công Thương ban hành khung giá hợp lý để mở rộng công suất nhà máy phong điện Tuy Phong (30 MW). Đồng thời, ngành điện lực cần ưu tiên cung ứng 100% công suất hạ thế cho các vùng sản xuất tập trung đạt chứng nhận GAP, chấm dứt việc cắt giảm 50% phụ tải gây lãng phí hơn 616 tỷ đồng đầu tư của nông dân.

Vì sao chi phí logistics và chiếu xạ của thanh long Việt Nam lại kém cạnh tranh hơn Thái Lan? Phí chiếu xạ tại Việt Nam hiện ở mức 1 USD/kg, cao gấp hơn 4 lần so với mức 0,24 USD/kg tại Thái Lan. Bên cạnh đó, chỉ số logistics của Việt Nam đạt 3,0 (thấp hơn mức 3,18 của Thái Lan), cùng với giá cước vận tải biển quốc tế cao hơn từ 10% đến 15%, làm suy giảm đáng kể sức cạnh tranh về giá của nông sản Việt.

Hiệp hội Thanh long Bình Thuận cần đổi mới cơ chế hoạt động như thế nào để hỗ trợ hội viên? Hiệp hội cần chuyển đổi từ cơ chế hành chính sang liên minh kinh tế thực chất, thiết lập cơ chế đại diện đàm phán giá xuất khẩu tập trung nhằm tăng vị thế thương lượng với thương nhân quốc tế. Đồng thời, Hiệp hội phải chủ động đặt hàng nghiên cứu giống mới với các viện khoa học và điều phối liên kết tiêu thụ sản phẩm GlobalGAP.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định lợi thế cạnh tranh của thanh long Bình Thuận hiện nay chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên sẵn có, trong khi các yếu tố công nghệ, R&D và hạ tầng dịch vụ hỗ trợ đều ở mức trung bình đến yếu.
  • Điểm nghẽn hạ tầng và thể chế đang gây thất thoát lớn, thể hiện qua việc lãng phí hơn 616 tỷ đồng vốn trạm biến áp và diện tích GlobalGAP chỉ chiếm vỏn vẹn 1,1% tổng quy mô canh tác 20.185 ha.
  • Công trình đóng góp hệ thống giải pháp chính sách công toàn diện, kết hợp hài hòa giữa cơ chế tín dụng chuỗi 80 triệu đồng/ha, huy động năng lượng tái tạo và hoàn thiện mạng lưới giao thông nông thôn.
  • Xác lập lộ trình tái cấu trúc nguồn cung giai đoạn 2015 - 2020 nhằm phân hóa thị trường, hướng đến mục tiêu giảm tỷ trọng xuất khẩu tiểu ngạch xuống dưới mức 40%.
  • Nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao tính minh bạch quản trị địa phương và tạo điều kiện để nông dân tham gia thực chất vào quá trình hoạch định chính sách nông nghiệp.

Công trình nghiên cứu thạc sĩ của tác giả Lý Quốc Nam là tài liệu tham khảo nền tảng, cung cấp góc nhìn đa chiều và hệ thống giải pháp sắc bén cho bài toán nâng tầm chuỗi giá trị thanh long Bình Thuận. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nhà khoa học hãy kết nối và ứng dụng ngay những khuyến nghị chính sách này vào thực tiễn để bảo vệ vị thế đầu ngành của nông sản Việt Nam.