Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Một số vấn đề chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP, ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì: Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Như vậy, việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn những điểm khác biệt nhất định giữa các nước nhưng có thể hiểu doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế được thành lập hợp pháp, có tên riêng, có địa điểm sản xuất kinh doanh ổn định, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Để thuận tiện cho việc quản lý, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển, người ta thường sử dụng tiêu thức quy mô để phân loại doanh nghiệp. Theo tiêu thức này các doanh nghiệp được chia thành ba loại: doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ. Tuy nhiên, do có nhiều đặc điểm giống nhau giữa doanh nghiệp vừa và doanh nghiệp nhỏ nên để đơn giản hoá, nhiều nước trên thế giới (trong đó có Việt Nam) thường gộp chung hai loại hình doanh nghiệp này thành doanh nghiệp nhỏ và vừa (tại Việt Nam, các văn bản chính thức của Chính phủ và các cơ quan Nhà nước thống nhất cách gọi là doanh nghiệp nhỏ và vừa). Các tiêu chí được sử dụng nhiều nhất để xác định DNNVV là vốn (hoặc tài sản), lao động và doanh thu.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia tuỳ theo điều kiện, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 trình độ phát triển cũng như các chính sách đối với DNNVV của mình mà có thể chỉ dùng một, hai hoặc cả ba chỉ tiêu trên. Ngoài ra, tuỳ từng lĩnh vực kinh doanh mà một số nước còn có những quy định khác nhau cho các tiêu chí. Chúng ta có thể tham khảo tiêu chí phân loại DNNVV ở một số nước trong Bảng 1. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở một số nước Tiêu chí phân loại Nước Số lao động (người) Tổng giá trị bình quân tài sản Indonesia <100 < 0,6 tỷ Rupi Singapo <100 < 499 triệu USD Thái Lan <100 < 200 Baht <300 trong lĩnh vực CN và XD < 0,6 triệu USD Hàn Quốc < 50 trong bán lẻ < 0,25 triệu USD < 100 trong bán buôn < 10 triệu yên Nhật Bản <50 trong bán lẻ < 100 triệu yên Châu Âu < 250 < 27 triệu ECU Mehico <250 < 7 triệu USD Mỹ <500 < 20 triệu USD Nguồn: Nguyễn Cúc (2000), Cải cách cơ chế chính sách hỗ trợ DNNVV đến 2005 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 DNNVV ở Việt Nam là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).
Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV đã nêu định nghĩa DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm. Cụ thể như sau: - Doanh nghiệp siêu nhỏ có số lao động từ 10 người trở xuống. - Doanh nghiệp nhỏ có tổng nguồn vốn từ 20 tỷ đồng trở xuống hoặc có số lao động từ trên 10 người đến 200 người. Đối với doanh nghiệp hoạt động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ 10 tỷ đồng trở xuống, hoặc có số lao động từ trên 10 - 50 người.
- Doanh nghiệp vừa có tổng nguồn vốn từ trên 20 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng, hoặc có số lao động từ trên 200 người đến 300 người. Đối với doanh nghiệp hoạt động thương mại và dịch vụ thì tiêu chí tổng nguồn vốn được xác định là từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng, hoặc có số lao động từ trên 50 người đến 100 người. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chỉ tiêu xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Khu vực Số lao Tổng Số lao Tổng Số lao động động nguồn vốn động nguồn vốn I.
Nông, 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 lâm trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến nghiệp và 200 100 tỷ đồng 300 người thủy sản người II. Công 10 người 20 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 nghiệp và trở xuống trở xuống người đến đồng đến người đến xây dựng 200 100 tỷ đồng 300 người người III. 10 người 10 tỷ đồng từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 Thương trở xuống trở xuống người đến đồng đến 50 người đến mại và 50 người tỷ đồng 100 người dịch vụ (Nguồn: Nghị định 56/NĐ-CP ngày 30/06/2009) 1. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Nếu xét trên góc độ tổng hợp các mối quan hệ của con người trong hoạt động sản xuất, thì quá trình sản xuất là sự tổng hợp của 2 mặt: Mặt kỹ thuật của sản xuất và mặt kinh tế - xã hội của sản xuất.
Trong lĩnh vực sản xuất vật chất của xã hội, do sự phân công lao động xã hội, nền kinh tế chia thành nhiều ngành như nông nghiệp, công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, xây dựng,. Vì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa có những đặc trưng cơ bản về mặt kỹ thuật - sản xuất, cũng như đặc trưng kinh tế - xã hội, khác với các loại hình doanh nghiệp khác ở các khía cạnh chủ yếu sau: DNNVV có những đặc điểm nhất định trong quá trình hình thành và phát triển. Có thể nhận thấy DNNVV có một số đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, tính dễ khởi sự. Luật Doanh nghiệp hiện nay không qui định mức vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư tối thiểu, số lao động tối thiểu bắt buộc khi đăng ký doanh nghiệp.
Cùng với môi trường kinh doanh đang được cải thiện thì số lượng các DNNVV đăng ký mới gia tăng nhanh chóng. Trong một chừng mực nhất định, khi việc thực thi các qui định về phá sản và giải thể doanh nghiệp chưa thuận lợi nên một số DNNVV thay vì rút lui khỏi thị trường một cách chính thức thì chọn phương án đơn giản là ngừng hoạt động. Cũng chính vì lý do đó nên việc thống kê số lượng các DNNVV đang hoạt động trên thị trường gặp nhiều khó khăn và khó đưa ra con số chính xác. Thứ hai là tính linh hoạt cao.
Đây là đặc điểm gắn liền với các DNNVV. Do qui mô không lớn nên đầu tư của các DNNVV vào các dây chuyền và máy móc công nghệ không nhiều, chính vì lẽ đó nên sau một thời gian hoạt động nếu nhận thấy một ngành, hay một mặt hàng kinh doanh nào đó không có lời thì lập tức các DNNVV sẽ chuyển hướng sang các mặt hàng và dịch vụ hiệu quả hơn. Một số DNNVV sau một thời gian khẳng định được uy tín và thương hiệu đã tiến hành các biện pháp tích luỹ vốn và mở rộng qui mô để trở thành các doanh nghiệp lớn. Tuy nhiên nhiều chủ DNNVV bằng lòng với qui mô của doanh nghiệp mình và thể hiện tính linh hoạt cao để khẳng định vị trí trên thương trường.
Nếu như các doanh nghiệp lớn chuyên kinh doanh một số sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định thì khi gặp suy thoái hoặc các tác động bất lợi từ bên ngoài thì sẽ rất khó xoay xở. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Thứ ba là tính linh hoạt trong cạnh tranh. Với xuất phát điểm là khả năng dễ tham gia vào thị trường cũng như rút khỏi thị trường. Trong các chuỗi giá trị ngành hàng thì các DNNVV có thể khá dễ dàng tìm cho mình phân khúc phù hợp trong hợp tác với các doanh nghiệp lớn.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể kể đến hàng loạt các điểm yếu của các DNNVV, mà khởi đầu là thiếu các nguồn lực phát triển, đặc biệt là các nguồn lực về tài chính và con người. Đối với một số ngành hàng thì các DNNVV không tận dụng được các lợi thế về qui mô. Còn một điểm nữa đó là sự hình thành và phát triển của các DNNVV phụ thuộc nhiều vào chủ doanh nghiệp nên khó thu hút trí tuệ tập thể trong các quyết định dài hạn và chiến lược của doanh nghiệp. Điều này thể hiện qua cách thức đưa ra các quyết định quan trọng mang tính chiến lược của doanh nghiệp.
Tại các doanh nghiệp lớn các quyết định mang tính chiến lược được thực hiện theo qui trình và có hệ thống, tuy nhiên tại các DNNVV thì các quyết định này trong nhiều trường hợp mang nặng ý kiến chủ quan của chủ doanh nghiệp. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, các DNNVV đóng vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và trong mạng lưới sản xuất toàn cầu và chuỗi cung ứng hàng hóa và dịch vụ. Trong điều kiện nền kinh tế Việt nam hiện nay vai trò của các DNNVV được thể hiện ở các khía cạnh khác nhau: Thứ nhất, đóng góp vào kết quả hoạt động của nền kinh tế, góp phần làm tăng GDP. Cũng như DNNVV ở tất cả các nước, DNNVV ở Việt Nam cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa khác nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hóa tiêu dùng khác.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong những năm vừa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.