Chương 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh Chương 2: Phân tích thực trạng cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Xây dựng Tiền Phong Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Xây dựng Tiền Phong 6 Phí Anh Dũng Lớp QTKD -TT1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH 1. Lý luận chung về cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh là một thuộc tính vốn có không ngừng diễn ra giữa các doanh nghiệp. Cạnh tranh tồn tại tự nhiên và đồng thời là sự chọn lọc một yêu cầu thiết yếu dành cho doanh nghiệp phát triển theo hƣớng tiến bộ.
Phủ nhận cạnh tranh tức lặt hủy diệt mình. Cơ chế thị trƣờng bắt buộc mọi doanh nghiệp, mọi nhà sản xuất đều phải them gia công cuộc cạnh tranh để tìm kiếm lợi nhuận, thị trƣờng…Cuộc chiến này không có sự khoan nhƣợng. Do cách tiếp cận khác nhau, mục đích nghiên cứu khác nhau, nên trong thực tế có nhiều quan niệm khác về cạnh tranh. Kế thừa các quan điểm của các nhà nghiên cứu có thể thấy rằng: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trƣờng cùng theo đuổi mục đích lợi nhuận tối ƣu.
Đó là sự ganh đua giữa các chủ thể nhằm giành đƣợc những điều kiện thuận lợi nhất để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch về phía mình. Cạnh tranh đƣợc coi là một phƣơng thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trƣờng. Vì tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh là một đặc ân của nền kinh tế thị trƣờng dành cho mọi doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp lý của luật cạnh tranh. Với những quan niệm nhƣ trên, phạm trù cạnh tranh đƣợc hiểu: Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện phá, cả nghệ thuật lẫn thủ thuật để đạt đƣợc mục tiêu kinh tế của mình, thông thƣờng là chiếm lấy thị trƣờng, giành lấy khách hàng cũng nhƣ các điều kiện sản xuất, thị trƣờng có lợi nhất.
Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích. Kết quả của cạnh tranh là ngƣời thắng xông lên, hiến dâng cho xã hội, cho ngƣời tiêu dùng sản phẩm dịch vụ có tính ƣu việt hơn hẳn. Ngƣời thu phải rút lui khỏi thị trƣờng vì họ chính là tội đồ sử dụng lãng phí các nguồn lực xã hội, sản xuất ra sản phẩm dịch vụ kém cỏi. Cạnh tranh thức sự thúc đẩy xã hội theo hƣớng tiến bộ.
Quan điểm về cạnh tranh trong kinh doanh 7 Phí Anh Dũng Lớp QTKD -TT1 Trong giai đoạn hiện nay, không phân biệt quốc gia nào, thì nền kinh tế của các nƣớc trên thế giới đều tồn tại và vận hành phát triển theo cơ chế của nền kinh tế thị trƣờng. Việc xây dựng chiến lƣợc cạnh tranh và thực hiện chiến lƣợc có thành công hay không, có một ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Xây dựng chiến lƣợc cạnh tranh là việc xây dựng mô hình tổng thể về phƣơng pháp cạnh tranh, mục tiêu và những chính sách cụ thể để có thể đạt đƣợc mục tiêu. Việc cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt hơn trong điều kiện các yếu tố của nền kinh tế thế giới luôn vận động và thay đổi nhân sự, biến động của thị trƣờng, tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, quan niệm và thị hiếu của ngƣời tiêu dùng luôn thay đổi, rào cản thƣơng mại giữa các nƣớc ngày càng “thƣa” dần.
Cạnh tranh ngày nay là cuộc chiến “một mất một còn”. Doanh nghiệp nào đó, không còn đủ sức để tồn tại với doanh nghiệp khác trong cùng ngành, thì sớm hay muộn cũng sẽ mất đi. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, đã nảy sinh mộthình thức mới là sự hợp tác giữa những ngƣời cạnh tranh, cạnh tranh trong mối quan hệ hợp tác, liên kết làm một vấn đề mới trong kinh doanh mà doanh nghiệp có thể chấp nhận đƣợc trong cuộc chiến thƣơng trƣờng. Cấp độ cạnh tranh Có thể xem xét cấp độ cạnh tranh dƣới ba gốc độ sau: Năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm.
Năng lực cạnh tranh quốc gia, theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), đƣợc thể hiện qua ba nhân tố: Tính sáng tạo trong kinh tế, khả năng khoa học công nghệ và khả năng tài chính quốc gia. Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh sản phẩm là khả năng khai thác và sử dụng các ƣu thế, các năng lực độc đáo của mình để có thể đứng vững trƣớc các áp lực cạnh tranh nhƣ: đối thủ cạnh tranh trực tiếp, đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, khách hàng, nhà cung cấp và sản phẩm thay thế. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể đƣợc xem xét dựa vào các tiêu chí nhƣ: Cơ sở vật chất, năng lực khoa học công nghệ trong phát triển sản phẩm mới, nghiên cứu triển khai, khả năng về marketing, khả năng liên kết và sát nhập, khả năng tài chính, khả năng mềm dẻo của cơ cấu tổ chức. Năng lực cạnh tranh 8 Phí Anh Dũng Lớp QTKD -TT1 Theo quan điểm cổ điển dựa trên lý thuyết thƣơng mại truyền thống thì năng lực cạnh tranh của một công ty đƣợc xem xét qua lợi thế so sánh về chi phí và năng suất.
Tổ chức nào đạt đƣợc chi phí thấp, năng suất cao sẽ giành đƣợc thắng lợi trong cạnh tranh, chiếm lĩnh đƣợc thị trƣờng, thu nhiều lợi nhuận. Theo quan điểm của Michael Porter, năng lực cạnh tranh của công ty phụ thuộc vào khả năng khai thác các năng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có chi phí thấp và có sự dị biệt của sản phẩn, tức bao gồm các yếu tố vô hình. Trong khi đó, Giáo sƣ Tôn Thất Nguyễn Thiêm trong cuốn “Thị trƣờng, chiến lƣợc, cơ cấu” lại cho rằng nếu nhƣ doanh nghiệp chỉ chú trọng đến giá trị gia tăng nội sinh tức giá trị gia tăng đƣợc tạo ra từ sự chênh lệch giữa giá bán và giá thành hàng hóa, dịch vụ thì đến một lúc nào đó những nỗ lực của doanh nghiệp sẽ trở nên vô nghĩa do các doanh nghiệp hầu nhƣ đƣợc tiếp cận các nguồn yếu tố đầu vào gần nhƣ tƣơng đƣơng nhau trong quá trình toàn cầu hóa hoặc là do những yếu tố đến từ khách hàng. Khi đó, năng lực cạnh tranh của Công ty phục thuộc vào giá trị gia tăng ngoại sinh trên cơ sở mở rộng tầm nhìn hƣớng về thị trƣờng và khách hàng.
Nhƣ vậy, theo thời gian, mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của một Công ty nhƣng tựu trung lại, năng lực cạnh tranh của một công ty là khả năng vƣợt trội trong bản thân nội tại doanh nghiệp đó so với các doanh nghiệp đối thủ. Ở đó, sự vƣợt trội trong bản thân nội tại doanh nghiệp cho phép doanh nghiệp có thể huy động đƣợc tối đa nguồn lực bên trong và khai thác triệt để những yếu tố thuận lợi từ môi trƣờng bên ngoài để vƣơn đến một vị thế nhất định trên thị trƣờng. Tầm quan trọng của năng lực cạnh tranh Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng và quyết định đến sự sống còn của các doanh nghiệp. Bở lẽ suy cho cùng, mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp đƣợc xem nhƣ là một chiến lƣợc không thể thiế trong định hƣớng phát triển và nó góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp.
Lợi thế cạnh tranh Để có thể thể tồn tại cũng nhƣ đối phó với các lực lƣợng cạnh tranh, công ty phải tạo đƣợc lợi thế cạnh tranh. Việc gia tăng lợi thế cạnh tranh sẽ góp phần làm giảm 9 Phí Anh Dũng Lớp QTKD -TT1 áp lực cạnh tranh đối với công ty. Lợi thế cạnh tranh đƣợc định nghĩa là những thế mạnh hay năng lực phân biệt của công ty mà khách hàng. Thích ứng với cạnh tranh đòi hỏi phải sáng tạo và khai thác lợi thế cạnh tranh một cách nhạy bén và chính xác.
Công ty có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh thông qua nhiều khía cạnh khác nhau: Tích lũy tài sản vô hình Tài sản vô hình là nguồn lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất và là chìa khóa của công ty để thích nghi môi trƣờng kinh doanh. Đây chính là lòng tin của khách hàng đối với công ty cũng nhƣ đối với sản phẩm và dịch vụ, là giá trị mà công ty đã cố gắng tích lũy qua một quá trình lâu dài. Tài sản vô hình khó tích lũy, có khả năng đa dụng và là đầu vào, đầu ra trong các hoạt động kinh doanh nên là lợi thế cạnh tranh hiệu quả nhất. Tài sản vô hình có thể đƣợc tích lũy bằng cách trực tiếp (quảng cáo…) và gián tiếp (tích lũy qua hoạt động hàng ngày bằng chính giá trị sản phẩm).
việc tích lũy tài sản vô hình qua cách gián tiếp có thể sẽ lâu hơn cách trực tiếp nhƣng thƣờng đáng tin cậy và vững chắc hơn. Chu kỳ sử dụng khí giới cạnh tranh Trong bất kỳ tuyến thị trƣờng hay sản phẩm nào, khí giới cạnh tranh thích hợp thay đổi theo thời gian. Thông thƣờng sản phẩm đƣợc xem là khí giới ƣu tiên nhất, sau đó đến các dịch vụ phụ và sau cùng là giá cả. Vì vậy công ty cần tập trung khai thác khí giới lợi hại nhất là sản phẩm và các dịch vụ phụ.
Trong hầu hết các ngành công nghiệp, cạnh tranh về giá đƣợc xem là biện pháp nghèo nàn nhất vì làm giảm khả năng sinh lời, ngoại trừ một số trƣờng hợp cần thiết. Tuy nhiên, đối với các công ty mới thành lập hay muốn xâm nhập thị trƣờng mới, thƣờng áp dụng chu kỳ khác hẳn, khởi hành từ giá sau đó đến sản phẩm rồi mới đến dịch vụ. Do vậy, công ty cần chú ý chọn lựa chu kỳ sử dụng khí thế cạnh tranh thích hợp để tạo ra lợi thế cạnh tranh hữu hiệu nhất. Tập trung vào các yếu tố then chốt (KFS) Yếu tố then chốt (key factors for success) là các yếu tố quan trọng nhát tạo nên sự thành công của một công ty, khi chúng đƣợc kiểm soát và sử dụng một cách có hiệu quả.