mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; phần nội dung chính chia làm 3 chương Chương |: Mot sé van dé lý luận về cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Đầu tư Xây dựng và Thương Mại Toàn Gia Chương 3: Đề xuất và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Đầu tư Xây dựng và Thương Mại Toàn Gia 8 CHUONG 1: MOT SO LY LUAN CO BAN VE CANH TRANH VA NANG CAO NANG LUC CANH TRANH CUA DOANH NGHIEP 1.1 Các khái niệm có liên quan 1.1 Khái niệm về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh 1.1 Khai niém cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh hiện nay được sử dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, thương mại, xã hội, chính trị, pháp luật, thê thao. Có nhiều góc độ nhìn nhận khác nhau nên cũng có nhiều khái niệm về cạnh tranh ra đời. Theo Michael Porter (1998) cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thê giảm đi. Theo Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Hoàng Việt (2015) cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thê kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân.) nhằm gianh lay những vị thế đề tạo nên lợi thé tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác đê thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là trận chiến giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh nhăm giành/giữ được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng. Ngoài các tiếp cận trên, còn rất nhiều các cách hiểu khác nhau về cạnh tranh, cạnh tranh có thể hiểu một cách đây đủ: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên thị trường nhằm giành lấy những vị thể dé tạo nên lợi thể tương đổi trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác đẻ thu được nhiễu lợi ích nhất cho mình.2 Khái niệm lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là một trong nhiều thuật ngữ chính của quản trị chiến lược.
Lợi thế cạnh tranh được hiệu đơn giản là vị thế mà một doanh nghiệp muốn đạt được so với đối thủ cạnh tranh. Lợi thế cạnh tranh gắn liền với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Theo Nguyễn Hoàng Long, Nguyễn Hoàng Việt (2015) lợi thế cạnh tranh là những thế mạnh đặc biệt của doanh nghiệp, cho phép doanh nghiệp đạt được chất lượng 9 vượt trội, năng suất vượt trội, sự đôi mới vượt trội và đáp ứng khách hàng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh. Theo Michael Porter có hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản là: Lợi thế cạnh tranh dựa vào chỉ phí thấp và lợi thế cạnh tranh dựa vào khác biệt hóa.
Chỉ phí tháp: Lợi thê về chỉ phí là khi một doanh nghiệp sản xuất cung cấp các sản phẩm/dịch vụ với mức giá thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành nhằm thu hút những khách hàng mục tiêu. Khác biệt hóa: Lợi thế về khác biệt hóa là khi một doanh nghiệp cung cấp các sản phâm/dịch vụ khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh, qua đó mang lại những lợi ích vượt xa các sản phâm cạnh tranh từ những đối thủ khác. Lợi thế về khác biệt hóa có thể là về chất lượng sản phẩm, thiết kế, mẫu mã, dịch vụ khách hàng. Tóm lại, xây dựng lợi thế cạnh tranh là phát huy nội lực của doanh nghiệp.
tạo ra sản phâm có tính đặc thù riêng biệt so với đối thủ cạnh tranh bằng cách nâng cao năng lực cạnh tranh đề phát triên doanh nghiệp.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Theo Tô chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo Từ điện Bách khoa toàn thư Việt Nam năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kê cả giành lại một phan hay toàn bộ thị phan) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ. Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp đó có thê đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triên. Theo Micheal Poter (1996) năng lực cạnh tranh của công ty có thê hiệu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phâm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó.
Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Các đôi thủ cạnh tranh bó hẹp ở đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ân và các sản phẩm thay thê. Từ những quan điểm trên ta có thê tông hợp đưa ra khái niệm như sau: “Măng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thể cạnh tranh của doanh nghiệp thê hiện ở khả năng sản xuất, tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yêu tô nhàm đạt lợi ích kinh tê cao và bên vững ” 10 1.2 Các nội dung lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Các yếu tố cầu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp L2.L1 Tài chính Đây là yêu tô quan trọng quyết định khả năng sản xuất và là chỉ tiêu hàng dau dé đánh giá quy mô kinh doanh của doanh nghiệp. Nguôn lực tài chính ở đây bao gồm: quy mô tài chính của doanh nghiệp.
tình hình nguồn vốn, đầu tư, tình hình tài chính tốt sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư đôi mới máy móc, trang thiết bị, đầu tư vào các chương trình PR, quảng cáo, giới thiệu sản phâm từ đó nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nguồn vốn lớn sẽ giúp doanh nghiệp tự chủ về tài chính, giảm bớt được các khoản nợ vay giảm bớt được các rủi ro xảy ra tạo cho doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh hơn từ đó có nhiêu cơ hiệu kinh đoanh hơn. Nếu tình hình tài chính yếu kém thì sẽ ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp, cu thể là có thê làm gián đoạn hoạt động sản xuất, kinh đoanh của doanh nghiệp, hạn chế việc đào tạo nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên, hạn chế triển khai nghiên cứu. ứng dụng, nghiên cứu thị trường, như hạn chế việc sử dụng công nghệ hiện đại, hạn chế hiện đại hoá hệ thống tô chức quản lý, gây nên ảnh hưởng đến các mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp.2 Cong nghé Công nghệ có ảnh hưởng lớn tới khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đề có năng lực cạnh tranh tốt doanh nghiệp phải được trang bị bằng công nghệ hiện đại. Công nghệ hiện đại là công nghệ sử dụng ít nhân lực, thời gian tạo ra sản phẩm ngắn, tiêu hao năng lượng và nguyên liệu thấp, năng suất cao, tính linh hoạt cao, chất lượng sản phẩm tốt, ít gây ô nhiễm môi trường. Doanh nghiệp cần lựa chọn công nghệ thích hợp, đào tạo đội ngũ nhân viên có đủ năng lực, trình độ đề điều khiên và kiêm soát công nghệ nhằm phát huy tối đa năng suất thiết kế của công nghệ. Vậy việc áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại trong quá trình sản xuất và kinh doanh giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ do đó làm cho năng lực cạnh tranh của sản phẩm tăng.3 Nhan luc Nguồn nhân lực có vai trò hết sức quan trọng đối với sự thành công của doanh nghiệp.
Kinh doanh là hoạt động của con người, kết quả kinh doanh sẽ phục vụ lại lợi ích của con người. Vì vậy, con người vừa là công cụ vừa là mục đích của hoạt động sản 11 xuất kinh doanh. Việc sử dụng nguồn nhân lực như thế nào để có hiệu quả luôn là cơ hội cũng như thách thức cho hoạt động quản trị có hiệu quả. Từ đó doanh nghiệp luôn phải xác định được điểm mạnh điểm yêu của nguồn nhân lực đề có những chiến lược kinh doanh phù hợp và hiệu quả tạo ra khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Như vậy đề nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thì những người trong doanh nghiệp phải có ý thức và trách nhiệm, nghĩa vụ về công việc của mình. Muốn vậy khâu tuyên dung đảo tạo và đãi ngộ nhân sự là vấn đề quan trọng, nó quyết định đến sự tôn tại và phát triên của doanh nghiệp.4 Sản xuất Năng lực sản xuất hay còn gọi là công suất là khả năng sản xuất sản phâm và cung ứng dịch vụ của máy móc thiết bị, lao động và các bộ phận của một doanh nghiệp trong một đơn vị thời gian nhất định (tháng, quý.) trong điều kiện xác định. Năng lực sản xuất có thê tính cho một phân xưởng, một công đoạn sản xuất, một đây chuyền hay toàn bộ hệ thông sản xuất. Trong trường hợp các bộ phận sản xuất sắp xếp theo quy trình công nghệ, năng lực sản xuất được xác định ở khâu yếu nhất.
Năng lực sản xuất là một đại lượng động, có thê thay đôi theo thời gian và điều kiện sản xuất. Nếu thay đôi số lượng thiết bị, điện tích sản xuất, bố trí phân giao công việc cho nhân viên hợp ly, cai tiền quản lý. thì năng lực sản xuất sẽ thay đồi.5 Thương hiệu Ủy tín, thương hiệu của doanh nghiệp được coi là sức mạnh vô hình của doanh nghiệp. Nó được hình thành trong cả một quá trình phấn đấu lâu đài, kiên trì theo đuôi mục tiêu và chiến lược đúng đăn.
Thương hiệu trước hết được xây dựng bằng con đường chất lượng: chất lượng của hệ thống quản lý, của từng con người trong doanh nghiệp, chất lượng sản phâm doanh nghiệp sản xuất cung cấp cho thị trường. Thương hiệu của doanh nghiệp còn được xây dựng bằng sự đóng góp của doanh nghiệp vào sự phát triên bên vững của nên kinh tế xã hội, của các dịch vụ đi kèm với sản phẩm, của hoạt động marketing và quảng cáo trung thực. Nếu sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp có thương hiệu mạnh sẽ kích thích người mua nhanh chóng đi đến quyết định mua, nhờ đó mà thị phần của doanh nghiệp gia tăng.