Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Áp dụng thuyết năng lực động để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bất động sản Phố Son" do sinh viên Lê Thị Kim Chi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đăng Hào (ngành Kinh doanh thương mại, Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Huế, bảo vệ tháng 5/2018) được xây dựng dựa trên bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa. Trong môi trường kinh doanh biến động nhanh chóng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) thường gặp nhiều bất lợi do hạn chế về nguồn lực nội tại, dẫn đến nguy cơ bị đào thải trước sức ép cạnh tranh gay gắt. Tại thị trường bất động sản thành phố Đà Nẵng, nơi tập trung nhiều tổ chức kinh tế lớn có chung các nguồn lực tạo lợi thế truyền thống, yêu cầu đặt ra cho Công ty Cổ phần Tư vấn Bất động sản Phố Son là phải nhận dạng, nuôi dưỡng và chuyển hóa các nguồn lực vô hình thành năng lực động khác biệt nhằm duy trì lợi nhuận và vị thế kinh doanh bền vững.

Mục tiêu chung của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng năng lực động tại Công ty Bất động sản Phố Son, từ đó đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong giai đoạn 5 năm tiếp theo. Các mục tiêu cụ thể được xác định bao gồm:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về thuyết năng lực động cùng năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.
  2. Xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố cấu thành năng lực động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
  3. Đánh giá thực trạng cùng hiệu quả việc vận dụng thuyết năng lực động trong hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Bất động sản Phố Son.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty dựa trên việc áp dụng thuyết năng lực động.

Để đạt được các mục tiêu trên, tác giả đặt ra bốn câu hỏi nghiên cứu:

  1. Có những cơ sở lý luận và thực tiễn nào liên quan đến các yếu tố hình thành năng lực động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
  2. Những nhân tố nào tác động và mức độ tác động của các yếu tố trong năng lực động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp?
  3. Tác động của các yếu tố hình thành năng lực động đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bất động sản Phố Son như thế nào?
  4. Cần có những biện pháp nào để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của Công ty Bất động sản Phố Son?

Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua thuyết năng lực động. Đối tượng khảo sát thực tế gồm hai nhóm khách hàng: khách hàng đã được tư vấn nhưng chưa thực hiện giao dịch và khách hàng đã mua hoặc đầu tư đất của công ty. Cả hai nhóm đều đã tiếp cận dịch vụ, chính sách và sự chăm sóc từ đội ngũ nhân sự, bảo đảm tính am hiểu về quy trình cung ứng của Phố Son. Về phạm vi không gian, nghiên cứu được triển khai tại Công ty Cổ phần Tư vấn Bất động sản Phố Son và thị trường bất động sản Đà Nẵng. Phạm vi thời gian bao gồm dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015–2017 do doanh nghiệp cung cấp và dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát vào tháng 2 và tháng 3 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận được phát triển trên sự giao thoa giữa lý thuyết nguồn lực (Resource-Based View – RBV) và thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities). Lý thuyết nguồn lực (Wernerfelt, 1984; Barney, 1991) chỉ ra rằng lợi thế cạnh tranh xuất phát từ các nguồn lực đáp ứng tiêu chuẩn VRIN: có giá trị (Value), hiếm (Rarity), khó bắt chước (Inimitability) và không thể thay thế (Non-substitutability). Mặc dù vậy, trong môi trường thị trường biến động liên tục, lý thuyết năng lực động (Teece, Pisano & Shuen, 1997; Eisenhardt & Martin, 2000; Ambrosini & Bowman, 2009) bổ sung thêm cơ chế giúp doanh nghiệp thích ứng thông qua khả năng tích hợp, tái cấu trúc và định hình lại tiềm năng nội bộ.

Về bản chất ngành, tác giả tham chiếu khái niệm bất động sản theo Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Việt Nam, Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế năm 2005, đồng thời so sánh với quy định pháp luật của Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản và Thái Lan. Hàng hóa bất động sản được phân tích qua bốn thuộc tính căn bản: tính bất động, tính không đồng nhất, tính khan hiếm và tính bền vững trong đời sống kinh tế. Về mặt năng lực cạnh tranh, nghiên cứu vận dụng quan điểm của Michael Porter (2009b) và Từ điển thuật ngữ kinh tế học (2001), kết hợp phân loại chỉ tiêu đánh giá định tính (uy tín thương hiệu, kinh nghiệm thương trường, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực) và chỉ tiêu định lượng (thị phần, lợi nhuận, năng suất lao động).

Mô hình nghiên cứu thực nghiệm được kế thừa và hiệu chỉnh từ nghiên cứu của Wang & Ahmed (2007), Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009) và Huỳnh Thị Thúy Hoa. Điểm điều chỉnh quan trọng là thay thế biến "Năng lực tổ chức dịch vụ" bằng biến "Năng lực nguồn nhân lực" (dựa trên luận điểm của Nguyễn Đình Thọ, 2009 cùng kết quả phỏng vấn chuyên gia quản lý tại công ty). Mô hình hồi quy tuyến tính ban đầu gồm biến phụ thuộc là Năng lực cạnh tranh động ($Y$) và năm biến độc lập ($X_1$ đến $X_5$):

Biến nghiên cứu Khía cạnh thành phần Số biến quan sát Nguồn thang đo tham chiếu
Năng lực marketing ($X_1$) Đáp ứng khách hàng (4), Phản ứng với đối thủ (2), Chất lượng mối quan hệ (1) 7 Homburg et al. (2007), Kotler et al. (2006), Li & Calatone (1998), Tho & Trang (2009), Nguyen & Barrett (2007), Jayachandran (2008), Menguc & Auh (2006), Wang & Ahmed (2007)
Định hướng kinh doanh ($X_2$) Năng lực chủ động (3), Năng lực mạo hiểm (2) 5 Covin & Slevin (1989), Lumpkin & Dess (1996), Keh et al. (2007), Tho & Trang (2009), Wang & Ahmed (2007)
Năng lực sáng tạo ($X_3$) Đưa ra sản phẩm mới, đa dạng sản phẩm, tạo điều kiện tiếp cận 3 Dess & Picken (2000), Hult et al. (2006), Tho & Trang (2009)
Danh tiếng doanh nghiệp ($X_4$) Xây dựng hình ảnh, thương hiệu, uy tín lãnh đạo, tính thanh khoản sản phẩm 4 Trout (2004), Gronroos (1984), Kang & James (2004), Roberts et al. (2002), Wang & Ahmed (2007)
Năng lực nguồn nhân lực ($X_5$) Thái độ phục vụ, tính nhanh chóng, sự tin cậy, chuyên môn, tính chuyên nghiệp, chăm sóc khách hàng 6 Nguyễn Đình Thọ (2009), phỏng vấn sâu ban lãnh đạo công ty
Năng lực cạnh tranh ($Y$) Cạnh tranh với đối thủ, vị thế đối thủ mạnh, phát triển dài hạn 3 Mô hình tổng hợp của tác giả

Phương pháp thu thập dữ liệu kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn sâu 10 khách hàng đến giao dịch, cán bộ lãnh đạo và 10 nhân viên công ty; khảo sát thử 40 khách hàng để hoàn thiện bảng hỏi.
  • Nghiên cứu định lượng: Thiết kế thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: "Rất không đồng ý" đến 5: "Rất đồng ý") kết hợp thang đo định danh và tỷ lệ để thu thập dữ liệu nhân khẩu học. Phương pháp lấy mẫu phi xác xuất (chọn mẫu thuận tiện) được áp dụng. Dựa trên quy tắc cỡ mẫu tối thiểu cho phân tích EFA gấp 5 lần tổng số biến quan sát ($27 \times 5 = 135$ mẫu), tác giả phát ra 180 phiếu khảo sát và thu thập trực tiếp tại trụ sở, chi nhánh công ty hoặc qua các nhân viên kinh doanh.
  • Xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha (loại biến có tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3; thang đo đạt chuẩn khi Alpha $\ge 0,6$), phân tích nhân tố khám phá EFA (tiêu chuẩn KMO từ 0,5 đến 1,0, kiểm định Bartlett có Sig. < 0,05, trích Principal Components, xoay Varimax, Factor Loading > 0,5, Eigenvalue > 1, tổng phương sai trích Total Variance Explained > 50%), phân tích tương quan Pearson, hồi quy tuyến tính bội OLS (kiểm định đa cộng tuyến qua VIF < 10, tự tương quan qua Durbin-Watson từ 1,5 đến 2,5) và kiểm định One-way ANOVA nhằm xác định sai biệt đánh giá theo nhân khẩu học.

Nội dung chính theo từng chương

Phần mở đầu và Chương 1: Tổng quan lý luận về năng lực động và năng lực cạnh tranh

Chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết xuyên suốt khóa luận. Tác giả phân tích tiến trình dịch chuyển tư duy quản trị chiến lược: từ trường phái phân tích môi trường bên ngoài tĩnh (mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter) sang trường phái nguồn lực nội bộ (RBV), và đỉnh cao là thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities) để lý giải khả năng thích ứng trong môi trường bất định. Khóa luận tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tiêu biểu như Sinkula, Baker & Noordewier (1997) về định hướng học hỏi và marketing động; Teece, Pisano & Shuen (1997) về nền tảng lý thuyết năng lực động; Wu (2007) về quan hệ giữa nguồn lực nội bộ và năng lực động tại Đài Loan; Keh, Nguyen Thi Tuyet Mai & Ng (2007) về định hướng kinh doanh tại Singapore; Nguyễn Đình Thọ & Nguyễn Thị Mai Trang (2009) về năng lực động tại doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh; và nghiên cứu lý thuyết của Nguyễn Trần Sỹ (2013). Đồng thời, tác giả làm rõ bản chất của thị trường bất động sản thông qua các thuộc tính vật lý và pháp lý, từ đó cụ thể hóa 27 biến quan sát đo lường 5 thành phần năng lực động tác động tới năng lực cạnh tranh.

Chương 2: Thực trạng áp dụng thuyết năng lực động trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bất động sản Phố Son

Nội dung chương 2 tập trung giới thiệu và mổ xẻ thực trạng hoạt động của đối tượng nghiên cứu. Công ty Cổ phần Tư vấn Bất động sản Phố Son thành lập ngày 08/05/2012 (Giấy phép kinh doanh số 0401492616 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. Đà Nẵng cấp), trụ sở chính đặt tại số 05 Đào Tấn và chi nhánh thành lập ngày 20/02/2016 tại số 274 đường 2/9, quận Hải Châu, Đà Nẵng. Vốn điều lệ ban đầu đạt 15 tỷ đồng, đến tháng 10/2017 tăng lên 75 tỷ đồng. Các mốc hoạt động kinh doanh ghi nhận lễ ký kết hợp tác toàn diện với Bách Đạt Corp ngày 02/02/2016 phát triển 8 dự án tại Quảng Nam (2016–2020), phân phối độc quyền dự án GAIA CITY (2016) và triển khai các dự án Sentosa, Ngọc Dương Riverside, Cococenter House, Eco Future Park (2017). Công ty từng nhận Bằng khen của VCCI năm 2012, chứng nhận Top 100 Thương hiệu nhãn hiệu uy tín năm 2013 và nằm trong Top 1000 Doanh nghiệp Tư nhân nộp thuế TNDN lớn nhất Việt Nam các năm 2012, 2013.

Phần phân tích định lượng dựa trên mẫu khảo sát 180 khách hàng nhằm làm rõ cơ cấu nhân khẩu học (độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, phương tiện tiếp cận thông tin), mức độ quan tâm sản phẩm và thời gian gắn kết. Khóa luận kiểm tra độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha cho từng nhóm biến (Năng lực marketing, Danh tiếng doanh nghiệp, Năng lực sáng tạo, Định hướng kinh doanh, Năng lực nguồn nhân lực và Năng lực cạnh tranh), tiến hành loại bỏ các biến quan sát không đạt yêu cầu để đưa vào phân tích EFA. Thông qua ma trận xoay nhân tố và phân tích hồi quy bội (phương pháp Enter), mô hình lượng hóa cụ thể mức độ tác động của từng nhân tố độc lập tới năng lực cạnh tranh động của Phố Son. Ngoài ra, phân tích ANOVA được thực hiện để kiểm tra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm khách hàng theo giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp và thu nhập đối với cảm nhận về năng lực của doanh nghiệp.

Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bất động sản Phố Son – Đà Nẵng

Dựa trên kết quả hồi quy và các hạn chế bộc lộ qua dữ liệu khảo sát, chương 3 đề xuất định hướng phát triển chiến lược cho công ty cùng 5 nhóm giải pháp tương ứng với các nhân tố trong mô hình nghiên cứu:

  1. Nhóm giải pháp về Danh tiếng công ty: Tiếp tục xây dựng hình ảnh thương hiệu minh bạch, bảo đảm tính pháp lý và tính thanh khoản của các sản phẩm bất động sản phân phối.
  2. Nhóm giải pháp về Định hướng kinh doanh: Nâng cao tính chủ động đón đầu quy hoạch đô thị tại Đà Nẵng và Quảng Nam, kiểm soát mức độ mạo hiểm khi tham gia các dự án quy mô lớn.
  3. Nhóm giải pháp về Năng lực sáng tạo: Đa dạng hóa danh mục sản phẩm, cải tiến phương thức tiếp cận và hoàn thiện chính sách hỗ trợ giao dịch cho khách hàng.
  4. Nhóm giải pháp về Năng lực nguồn nhân lực: Đẩy mạnh đào tạo dài hạn chuyên môn môi giới, nâng cao tinh thần và thái độ phục vụ, chuyên nghiệp hóa bộ phận chăm sóc khách hàng.
  5. Nhóm giải pháp về Năng lực marketing: Tối ưu hóa các kênh xúc tiến, mở rộng hoạt động quảng bá, hoàn thiện chính sách giá linh hoạt và duy trì quan hệ đối tác bền vững với các chủ đầu tư uy tín.

Phần 3: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng kết lại toàn bộ kết quả nghiên cứu, đối chiếu với các mục tiêu đã đề ra ban đầu, đồng thời đưa ra các kiến nghị quản trị trực tiếp cho Ban lãnh đạo Công ty Bất động sản Phố Son trong việc phân bổ nguồn lực để nuôi dưỡng năng lực động. Đồng thời, phần này trình bày trung thực các hạn chế về quy mô mẫu, tính chất địa bàn và đề xuất định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Về mặt dữ liệu và kết quả thực nghiệm, khóa luận đã thực hiện hệ thống hóa các chỉ số tài chính, nhân sự và kinh doanh thứ cấp của Công ty Cổ phần Tư vấn Bất động sản Phố Son giai đoạn 2015–2017:

  • Ghi nhận sự tăng trưởng quy mô vốn điều lệ từ 15 tỷ đồng lên 75 tỷ đồng vào tháng 10/2017.
  • Thu thập và xử lý hoàn chỉnh dữ liệu sơ cấp từ 180 mẫu khảo sát khách hàng trong tháng 2 và tháng 3 năm 2018, bảo đảm kích thước mẫu vượt ngưỡng tối thiểu yêu cầu ($N = 180 > 135$).
  • Làm sạch và hiệu chỉnh hệ thống thang đo thông qua kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA, xác định rõ các nhân tố có ảnh hưởng thực sự tới năng lực cạnh tranh động thông qua phương trình hồi quy tuyến tính đa biến.
  • Bóc tách sự khác biệt trong cảm nhận của khách hàng dựa trên các kiểm định ANOVA One-way đối với các biến nhân khẩu học (giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập).

Về đóng góp học thuật và thực tiễn:

  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tác giả đã vận dụng lý thuyết năng lực động (vốn chủ yếu được kiểm chứng trên các doanh nghiệp sản xuất hoặc công nghệ quốc tế) vào thực tiễn ngành dịch vụ môi giới bất động sản tại một thị trường địa phương cụ thể (Đà Nẵng). Đề tài đã điều chỉnh mô hình gốc của Huỳnh Thị Thúy Hoa bằng cách loại bỏ yếu tố "Năng lực tổ chức dịch vụ" và đưa vào yếu tố "Năng lực nguồn nhân lực" căn cứ theo đặc thù phụ thuộc vào nhân sự tư vấn của ngành môi giới, có đối chiếu với lý thuyết của Nguyễn Đình Thọ (2009).
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp cho Ban lãnh đạo Công ty Cổ phần Tư vấn Bất động sản Phố Son một bức tranh lượng hóa rõ ràng về điểm mạnh, điểm yếu trong mắt khách hàng, từ đó định hình 5 nhóm giải pháp cụ thể giúp nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn 2018–2023.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện nghiên cứu:

  • Phương pháp chọn mẫu: Do áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phi xác xuất (chọn mẫu thuận tiện) để tiết kiệm thời gian và chi phí tiếp cận khách hàng, kết quả nghiên cứu có thể chịu ảnh hưởng từ tính chủ quan của quá trình chọn mẫu, làm hạn chế khả năng tổng quát hóa cho toàn bộ thị trường bất động sản.
  • Quy mô mẫu và phạm vi không gian: Khảo sát được thực hiện trên cỡ mẫu 180 khách hàng trong phạm vi khách hàng tiếp cận dịch vụ của Công ty Bất động sản Phố Son tại thị trường Đà Nẵng, chưa bao quát được toàn diện các đối tượng khách hàng của các công ty môi giới bất động sản khác trên cùng địa bàn.
  • Khung thời gian: Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong khoảng thời gian hẹp (tháng 2 và tháng 3 năm 2018), trong khi các chỉ tiêu tài sản, nguồn vốn và kết quả kinh doanh thứ cấp dừng lại ở chuỗi số liệu 2015–2017.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề xuất:

  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát và áp dụng các phương pháp lấy mẫu xác suất ngẫu nhiên để nâng cao tính đại diện của dữ liệu.
  • Mở rộng không gian nghiên cứu sang nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản khác trên địa bàn miền Trung hoặc toàn quốc để tăng tính so sánh đối sánh.
  • Bổ sung chuỗi thời gian nghiên cứu dài hơn nhằm theo dõi sự biến đổi của năng lực động qua các chu kỳ khác nhau của thị trường bất động sản.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và thực hành:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh doanh thương mại và Quản lý thị trường bất động sản: Tài liệu là tài liệu tham khảo giá trị về cách kết nối lý thuyết quản trị chiến lược (RBV, tiêu chuẩn VRIN, Dynamic Capabilities) với hoạt động thực tiễn của một doanh nghiệp dịch vụ địa phương.
  • Người thực hiện đề tài nghiên cứu định lượng ứng dụng SPSS: Khóa luận trình bày đầy đủ quy trình từ thiết kế bảng hỏi sơ bộ (phỏng vấn sâu, thử nghiệm 40 mẫu), hiệu chỉnh thang đo, lập luận cơ sở xác định cỡ mẫu ($N \ge 5 \times$ số biến quan sát), đến các bước kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích EFA (phép trích Principal Components, phép xoay Varimax), kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (VIF), tự tương quan (Durbin-Watson) và kiểm định sâu ANOVA.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Bảng tổng hợp các biến nghiên cứu và nguồn gốc thang đo (Bảng 1 trong khóa luận) cùng bảng chỉ số cấu thành các nhân tố (Bảng 1.2), giúp người nghiên cứu tái sử dụng hoặc điều chỉnh các câu hỏi khảo sát cho các đề tài về năng lực cạnh tranh trong ngành dịch vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận tiếp cận khái niệm và thuộc tính của bất động sản dựa trên những cơ sở pháp lý và học thuật nào?
Nghiên cứu tham chiếu Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Việt Nam, Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế năm 2005, đồng thời so sánh với pháp luật của Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản và Thái Lan. Về mặt học thuật, bất động sản được xác định có bốn thuộc tính đặc thù: tính bất động, tính không đồng nhất, tính khan hiếm và tính bền vững trong đời sống kinh tế.

2. Vì sao tác giả điều chỉnh mô hình nghiên cứu gốc của Huỳnh Thị Thúy Hoa bằng việc đưa vào biến "Năng lực nguồn nhân lực"?
Trong quá trình nghiên cứu định tính qua phỏng vấn sâu Ban lãnh đạo và nhân viên lâu năm tại Phố Son, tác giả nhận thấy yếu tố "Năng lực tổ chức dịch vụ" trong mô hình gốc không phản ánh sát thực tế của một doanh nghiệp môi giới bất động sản. Do ngành này phụ thuộc quyết định vào thái độ, trình độ chuyên môn và kỹ năng chăm sóc khách hàng của đội ngũ nhân sự, tác giả đã tham khảo cơ sở lý thuyết của Nguyễn Đình Thọ (2009) để đưa biến "Năng lực nguồn nhân lực" (gồm 6 biến quan sát) vào mô hình.

3. Kích thước mẫu khảo sát 180 khách hàng được xác định dựa trên nguyên tắc phương pháp luận nào?
Bảng câu hỏi nghiên cứu chính thức bao gồm 27 biến quan sát (24 biến độc lập và 3 biến phụ thuộc). Theo nguyên tắc phân tích nhân tố khám phá EFA của Hair et al. (1998) và Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), cỡ mẫu tối thiểu cần đạt gấp 5 lần tổng số biến quan sát ($27 \times 5 = 135$ mẫu). Để đảm bảo tính đại diện và dự phòng sai số, tác giả đã quyết định phát ra 180 phiếu khảo sát.

4. Dữ liệu nghiên cứu của đề tài được thu thập trong khung thời gian nào và gồm những nguồn nào?
Dữ liệu thứ cấp gồm các báo cáo tài chính, tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và cơ cấu tổ chức giai đoạn 2015–2017 do Công ty Bất động sản Phố Son cung cấp. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ phiếu khảo sát 180 khách hàng trong tháng 2 và tháng 3 năm 2018 tại TP. Đà Nẵng, kết hợp phỏng vấn sâu định tính ban đầu với 10 khách hàng, ban lãnh đạo và 10 nhân viên công ty.

5. Công ty Cổ phần Tư vấn Bất động sản Phố Son có những thông tin pháp lý và kết quả kinh doanh nổi bật nào được đề cập trong văn bản?
Công ty thành lập ngày 08/05/2012 theo Giấy phép kinh doanh số 0401492616 (Sở KH&ĐT TP. Đà Nẵng), trụ sở tại 05 Đào Tấn và mở chi nhánh tại 274 đường 2/9 vào ngày 20/02/2016. Vốn điều lệ ban đầu là 15 tỷ đồng, tăng lên 75 tỷ đồng vào tháng 10/2017. Về hợp tác dự án, ngày 02/02/2016 công ty ký kết với Bách Đạt Corp phát triển 8 dự án tại Quảng Nam, phân phối độc quyền GAIA CITY và thanh khoản các dự án Sentosa, Ngọc Dương Riverside, Cococenter House, Eco Future Park trong năm 2017. Về danh hiệu, công ty nhận bằng khen VCCI năm 2012, Top 100 thương hiệu uy tín năm 2013 và Top 1000 doanh nghiệp tư nhân nộp thuế TNDN lớn nhất Việt Nam năm 2012, 2013.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Lê Thị Kim Chi là công trình nghiên cứu định lượng kết hợp định tính nghiêm túc về việc vận dụng thuyết năng lực động nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp bất động sản tại thị trường Đà Nẵng. Bằng việc xây dựng mô hình nghiên cứu 27 biến quan sát dựa trên các khung lý thuyết kinh điển và kiểm định chặt chẽ qua mẫu khảo sát 180 khách hàng cùng chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2015–2017, tác giả đã lượng hóa được vai trò của các thành phần năng lực động đối với vị thế cạnh tranh của Công ty Bất động sản Phố Son. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất phản ánh sát kết quả phân tích thống kê, đóng góp cả về mặt lý luận điều chỉnh thang đo lẫn giá trị tham khảo quản trị thực tiễn cho các doanh nghiệp môi giới nhà đất vừa và nhỏ.