Tổng quan luận án
Hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam được định vị là kênh cung ứng vốn trung và dài hạn hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, đồng thời góp phần đa dạng hóa thị trường tài chính quốc gia. Tuy nhiên, thực tế phát triển của ngành này còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn: phạm vi khách hàng sử dụng dịch vụ còn hạn hẹp; quy mô vốn của các công ty cho thuê tài chính còn nhỏ; khả năng tiếp cận các kênh huy động vốn dài hạn như phát hành trái phiếu gặp trở ngại do tiềm lực và uy tín chưa cao. Chi phí huy động vốn ở mức cao kéo theo lãi suất cho thuê tăng, làm giảm sức cạnh tranh về giá; danh mục sản phẩm chưa hoàn thiện khi thiếu vắng mảng bất động sản và mảng cho thuê vận hành còn yếu; quy trình nghiệp vụ rườm rà; năng lực nhân sự và quản trị điều hành chưa đồng bộ; hành lang pháp lý còn bất cập dẫn đến rủi ro hoạt động cao. Về mặt học thuật, các công trình trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận ở mức độ khái quát định tính hoặc chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp tại Thành phố Hồ Chí Minh, chưa lượng hóa đầy đủ sự tác động mang tính cấu trúc của các nhân tố nội lực đến năng lực cạnh tranh trên phạm vi toàn quốc. Do đó, luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh (mã số: 9340101) của nghiên cứu sinh Phạm Đình Dzu tại Trường Đại học Duy Tân với đề tài "Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam" (2021) được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống này.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định, kiểm chứng và bổ sung các nhân tố mới trong nhóm nhân tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam; xây dựng mô hình nghiên cứu mới và thực hiện kiểm định thực nghiệm mức độ tác động của các nhân tố này, từ đó đề xuất hệ thống hàm ý chính sách và kiến nghị thực tiễn nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh cho hệ thống các công ty cho thuê tài chính.
Hệ thống mục tiêu cụ thể gồm bốn nội dung:
- Thứ nhất, tổng hợp và phân tích các nghiên cứu trong và ngoài nước, kết hợp ý kiến chuyên gia và khảo sát thực tiễn để nhận diện khoảng trống nghiên cứu, đề xuất mô hình lý thuyết mới phản ánh các nhân tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính.
- Thứ hai, xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống thang đo cho các nhân tố trong mô hình đề xuất.
- Thứ ba, tiến hành điều tra khảo sát, kiểm định mức độ tác động của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh thông qua các kỹ thuật định lượng và phân tích thực trạng hoạt động của ngành cho thuê tài chính tại Việt Nam.
- Thứ tư, tổng hợp kết quả phân tích định lượng và thực trạng để đề xuất các hàm ý chính sách, kiến nghị nâng cao năng lực cạnh tranh cho các công ty cho thuê tài chính trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm:
- Câu hỏi thứ nhất: Những nhân tố bên trong nào tác động đến năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam?
- Câu hỏi thứ hai: Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam có những thang đo như thế nào?
- Câu hỏi thứ ba: Mức độ tác động của các nhân tố đến năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam như thế nào?
- Câu hỏi thứ tư: Hàm ý, chính sách và kiến nghị nào để giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam, thông qua kết quả nghiên cứu?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào mối quan hệ tác động của các nhân tố nội lực đến năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính, nhằm hoàn thiện các nhân tố này.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh và dữ liệu thứ cấp của các công ty cho thuê tài chính trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2018; dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn và khảo sát chuyên gia trong thời gian thực hiện đề tài.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các quan điểm lý thuyết và thực nghiệm về năng lực cạnh tranh theo tiến trình lịch sử và cấp độ nghiên cứu:
| Nhóm tiếp cận |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Luận điểm và nội dung cốt lõi |
| Trường phái cổ điển |
Adam Smith (Scotland); David Ricardo (England); Eli Heckscher - Bertil Ohlin (Sweden) |
Lợi thế tuyệt đối dựa trên chi phí sản xuất thấp nhất; lợi thế so sánh/tương đối trong thương mại quốc tế; sự dồi dào của các yếu tố sản xuất địa phương như nguồn vốn và nhân công. |
| Trường phái tân cổ điển |
John M. Clark; Wroe Alderson; Ludwig von Mises; Joseph A. Schumpeter; Friedrich List, Max Weber, James Buchanan |
Lợi thế cạnh tranh xuất phát từ đổi mới công nghệ, phân khúc thị trường, truyền thông quảng cáo, phát triển sản phẩm, tính năng động tự động của thị trường, tinh thần kinh doanh chấp nhận rủi ro và các định chế xã hội. |
| Trường phái hiện đại |
Paul R. Krugman; Michael E. Porter |
Năng lực cạnh tranh bắt nguồn từ tăng trưởng năng suất dài hạn, môi trường thúc đẩy đổi mới sản phẩm và quy trình, gắn liền với mô hình kim cương và chuỗi giá trị. |
| Cấp độ quốc gia |
Bobba và cộng sự (1971); Scott, Lodge (1985); Tyson D'Andrea (1992); Krugman (1990, 1994); Porter (1990); WEF (1996); Barker, Köhler (1998); Porter và cộng sự (2000, 2008); Hartman (2000) |
Năng lực tạo ra của cải, phân phối sản phẩm ra thị trường thế giới, nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của người dân; phân biệt giữa năng lực cạnh tranh thực sự (dựa vào năng suất nội tại) và năng lực cạnh tranh danh nghĩa (dựa vào trợ cấp, kiểm soát lương). |
| Cấp độ công ty |
Flejterski (1984); Porter, Vander Linde (1995); Buckley và cộng sự (1988); OECD (2001); Adamkiewicz-Drwiłło (2002); Ajitabh, Momaya (2004); Chao-Hung, Li-Chang (2010); Altomonte và cộng sự (2012); Sanchez & Heene (1996, 2014); Thorne (2004); WEF (2004); Momaya và cộng sự (2005) |
Khả năng thích ứng sản phẩm về chất lượng, giá cả, kênh phân phối; năng lực duy trì, triển khai và phối hợp nguồn lực; trường phái quản trị chiến lược dựa trên bốn nguồn lực (nhân lực, tài chính, công nghệ, marketing); mô hình APP (Assets - Performance - Process). |
| Mô hình NLCT doanh nghiệp tại Việt Nam |
Hồ Đức Hùng (2009); Trần Thế Hoàng (2011); Lê Thị Hằng (2013); Nguyễn Văn Thụy (2015); Nguyễn Thành Long (2016) |
Mô hình 6M cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; 10 yếu tố của ngành thủy sản; bộ tiêu chí viễn thông di động; các thành phần năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại (nhấn mạnh quản trị rủi ro); 8 yếu tố của doanh nghiệp du lịch. |
| Mô hình đo lường năng lực cạnh tranh |
Buckley và cộng sự (1992); David A. Aaker (2007); Ibarra, M. del R. (2017); Anna Kaleka, Neil A. Morgan (2017) |
Mối tương quan giữa Hiệu suất - Khả năng - Quá trình cạnh tranh; phân tích đối thủ cạnh tranh (chiến lược, điểm mạnh/yếu, nguy cơ, cơ hội); 8 yếu tố của doanh nghiệp sản xuất tại Baja California; mối liên hệ giữa giá cả, sản phẩm, dịch vụ và hiệu quả xuất khẩu. |
| Nghiên cứu về ngành cho thuê tài chính |
Ph. Adrian Simon (2010); Yang Jianping (2012); Helmut Kraemer-Eis, Frank Lang (2012); Joenne Yuan (2015); Umar Bello và cộng sự (2016); Fatjola Lubonja và cộng sự (2019); Guojin Liu (2010); R K N D Darshani (2013); Liang Wang và cộng sự (2016); Ekaterina Blinova, Kirill Gerasimov (2018) |
Công cụ tài trợ vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua bất đối xứng thông tin; mô hình hồi quy OLS đánh giá tác động của cho thuê tài chính lên ROA trong ngành dầu khí Nigeria; hợp đồng bảo vệ quyền sở hữu thiết bị tại Anh; chi nhánh Kahawatta (Bank of Ceylon Leasing - Sri Lanka) xác định Giá thuê đóng góp 81% và Chất lượng dịch vụ đóng góp 22% tương quan tác động đến lợi thế cạnh tranh; công thức tính giá thuê: $LP = D + CP + Fee + AS + VAT$. |
| Nghiên cứu cho thuê tài chính tại Việt Nam |
Đoàn Thanh Hà (2003); Bùi Thị Hồng Đới (2003); Tống Thiện Phước (2005); Lê Thị Kim Nhung (2005); Hoàng Thị Thanh Hằng (2013) |
Phân tích định tính lịch sử hình thành, thực trạng giai đoạn 1997–2005, môi trường pháp lý và hội nhập tiền tệ; mô hình 10 yếu tố nội lực của công ty cho thuê tài chính tại Thành phố Hồ Chí Minh theo Thompson - Strickland. |
Từ việc phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu trên, tác giả đã chỉ ra bốn khoảng trống nghiên cứu cơ bản:
- Khoảng trống thứ nhất (về phạm vi địa bàn): Nghiên cứu của Hoàng Thị Thanh Hằng (2013) chỉ giới hạn khảo sát các công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi nhiều công ty cho thuê tài chính có trụ sở chính và chi nhánh hoạt động tại Hà Nội và các vùng kinh tế trọng điểm khác, dẫn đến kết quả chưa mang tính phổ quát cho toàn thị trường Việt Nam.
- Khoảng trống thứ hai (về nhân tố Giá cả): Mô hình của Hoàng Thị Thanh Hằng (2013) chỉ sử dụng biến "Cạnh tranh lãi suất", trong khi lý thuyết cạnh tranh (Flejterski, 1984; Adamkiewicz-Drwiłło, 2002; Darshani, 2013) chỉ rõ lãi suất chỉ là một thành phần của giá. Đối với ngành cho thuê tài chính tại Việt Nam, giá cả dịch vụ được cấu thành từ ba bộ phận: Lãi suất cho thuê (thả nổi hoặc cố định), Tỷ lệ ký quỹ (thường dao động từ 10% đến 15% giá trị tài sản để bảo toàn vốn) và Giá mua tài sản ban đầu (thỏa thuận giữa bên cho thuê, bên thuê và nhà cung ứng).
- Khoảng trống thứ ba (về nhân tố Quản lý rủi ro): Các mô hình nghiên cứu trước về cho thuê tài chính tại Việt Nam đã bỏ sót nhân tố Quản lý rủi ro. Hoạt động cho thuê tài chính chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 của Ngân hàng Nhà nước và Nghị định số 39/2014/NĐ-CP của Chính phủ. Thực tế hoạt động cho thuê tài chính đòi hỏi kiểm soát ba mắt xích cốt lõi: Khâu thẩm định dự án, Khâu thu hồi nợ và Khâu quản lý tài sản cho thuê (do tài sản bảo đảm chính là động sản do bên thuê trực tiếp vận hành).
- Khoảng trống thứ tư (về phương pháp đo lường): Đa số các nghiên cứu trong nước trước đây chỉ áp dụng phân tích định tính hoặc dừng lại ở mức thống kê mô tả, hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA). Các nghiên cứu chưa thực hiện phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) và kỹ thuật ước lượng lặp lại Bootstrap để kiểm định tính hợp lệ của thang đo và độ vững của các tham số ước lượng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng nền tảng lý thuyết quản trị chiến lược, lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael Porter (gồm mô hình Chuỗi giá trị, mô hình Kim cương năm 1990, mô hình Năm áp lực cạnh tranh, mô hình Hai thành phần trong năng lực cạnh tranh) và mô hình nội lực của Thompson – Strickland (2007). Trên cơ sở điều chỉnh và bổ sung các khoảng trống lý luận, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu cấu trúc gồm 10 nhân tố bên trong tác động trực tiếp đến Năng lực cạnh tranh (NLCT) của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam:
| STT |
Mã biến |
Tên nhân tố bên trong |
Nội dung các biến quan sát cấu thành |
| 1 |
NL |
Nguồn nhân lực |
Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, chính sách đào tạo và đãi ngộ nhân sự. |
| 2 |
TC |
Tài chính |
Quy mô vốn chủ sở hữu, năng lực huy động vốn, tỷ suất sinh lời (ROA, ROE), cơ cấu nợ và tính an toàn vốn. |
| 3 |
QT |
Quản trị điều hành |
Năng lực của ban điều hành, cấu trúc tổ chức bộ máy, hiệu quả kiểm soát nội bộ và tính linh hoạt trong ra quyết định. |
| 4 |
CL |
Chất lượng phục vụ |
Thời gian xử lý hồ sơ, tính chuyên nghiệp, mức độ đáp ứng yêu cầu khách hàng, quy trình hướng dẫn giao dịch. |
| 5 |
QM |
Quy mô – Mạng lưới |
Số lượng chi nhánh, phòng giao dịch, độ bao phủ thị trường địa bàn kinh tế, khả năng tiếp cận khách hàng vùng miền. |
| 6 |
GC |
Giá cả (nhân tố mới) |
Mức lãi suất cho thuê cạnh tranh, tỷ lệ tiền ký quỹ ban đầu hợp lý (10–15%), năng lực đàm phán giá mua tài sản với nhà cung cấp. |
| 7 |
SP |
Sản phẩm – Dịch vụ |
Đa dạng hóa danh mục tài sản cho thuê, gói sản phẩm cho thuê tài chính linh hoạt, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật đi kèm. |
| 8 |
TH |
Thương hiệu |
Mức độ nhận diện thương hiệu, uy tín của công ty và ngân hàng mẹ trên thị trường tài chính, niềm tin của đối tác. |
| 9 |
MK |
Marketing |
Hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại, nghiên cứu phân khúc khách hàng mục tiêu, chăm sóc khách hàng. |
| 10 |
RR |
Quản lý rủi ro (nhân tố mới) |
Năng lực thẩm định dự án/khách hàng, hiệu quả công tác thu hồi nợ, quy trình giám sát và quản lý hiện trạng tài sản cho thuê. |
Phương pháp và quy trình nghiên cứu được thiết kế theo hướng kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
- Quy trình nghiên cứu định tính: Tác giả tổng hợp cơ sở lý thuyết, kế thừa các thang đo của các học giả tiền nhiệm (Hoàng Thị Thanh Hằng, Darshani, Thompson – Strickland), sau đó tiến hành thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu các chuyên gia, nhà quản lý tại các công ty cho thuê tài chính, ngân hàng thương mại và giảng viên đại học chuyên ngành tài chính. Mục đích là điều chỉnh từ ngữ, loại bỏ các biến quan sát trùng lặp, bổ sung các biến phản ánh đặc thù hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam (đặc biệt là thang đo cho biến Giá cả và Quản lý rủi ro), hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ và chính thức.
- Quy trình nghiên cứu định lượng:
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Phát bảng câu hỏi khảo sát đến nhóm đối tượng gồm cán bộ lãnh đạo cấp cao, trưởng/phó phòng ban, chuyên viên tín dụng - nghiệp vụ tại các công ty cho thuê tài chính trên cả nước, cùng các chuyên gia, nhà khoa học thuộc các định chế tài chính, trường đại học.
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Báo cáo tài chính, báo cáo thường niên giai đoạn 2012–2018 của các công ty cho thuê tài chính tiêu biểu tại Việt Nam (ACBL, SBL, VCBLC, BIDVLC, VILC, BLC...), số liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
- Quy trình phân tích dữ liệu định lượng:
- Thống kê mô tả (Descriptive Statistics) mẫu nghiên cứu.
- Đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (loại các biến có tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0,3; thang đo đạt độ tin cậy khi Cronbach's Alpha từ 0,6 trở lên).
- Phân tích nhân tố khám phá (EFA) sử dụng phép trích Principal Axis Factoring với phép xoay Promax (hoặc Principal Components với phép xoay Varimax) để xác định giá trị hội tụ và giá trị phân biệt thông qua hệ số KMO, kiểm định Bartlett's Test và tổng phương sai trích.
- Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) nhằm kiểm tra mức độ phù hợp của mô hình đo lường với dữ liệu thị trường (thông qua các chỉ số Chi-square/df, GFI, TLI, CFI, RMSEA).
- Mô hình hóa cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm định các giả thuyết về mối quan hệ tác động trực tiếp của 10 nhân tố bên trong đến biến phụ thuộc Năng lực cạnh tranh.
- Kiểm định Bootstrap nhằm đánh giá độ tin cậy và tính bền vững của các ước lượng tham số trong mô hình SEM.
- Kiểm định Independent Samples T-Test để so sánh, phát hiện sự khác biệt trong đánh giá của các nhóm chuyên gia khảo sát theo thâm niên, vị trí công tác hoặc loại hình tổ chức.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này dành cho việc rà soát và hệ thống hóa hệ thống tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh và cho thuê tài chính. Tác giả phân tích các lý thuyết cạnh tranh từ trường phái Cổ điển (Adam Smith, David Ricardo, Eli Heckscher - Bertil Ohlin) đến Tân cổ điển (John M. Clark, Wroe Alderson, Ludwig von Mises, Schumpeter, Friedrich List, Max Weber, James Buchanan) và Hiện đại (Paul Krugman, Michael Porter). Nội dung chương phân biệt rõ năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia và cấp độ công ty thông qua các quan điểm của Buckley, Flejterski, OECD, Momaya. Luận án phân tích chi tiết các mô hình đo lường năng lực cạnh tranh tiêu biểu như mô hình tương quan của Buckley và cộng sự (Hình 1.1), mô hình phân tích đối thủ cạnh tranh của David Aaker (Hình 1.2), mô hình 8 yếu tố của Ibarra (Bảng 1.1), mô hình chuỗi giá trị và lợi thế giá - sản phẩm - dịch vụ của Anna Kaleka và Neil Morgan (Hình 1.3), mô hình 6M của Hồ Đức Hùng (Hình 1.4). Đối với lĩnh vực cho thuê tài chính, chương 1 khảo sát các nghiên cứu của Adrian Simon, Yang Jianping, Kraemer-Eis & Lang, Joenne Yuan, Umar Bello, Fatjola Lubonja, Guojin Liu, Darshani (Hình 1.6), Blinova & Gerasimov; đồng thời đánh giá các luận án trong nước của Đoàn Thanh Hà, Bùi Thị Hồng Đới, Tống Thiện Phước, Lê Thị Kim Nhung và Hoàng Thị Thanh Hằng (Hình 1.7). Cuối chương, tác giả xác định rõ ba khoảng trống nghiên cứu then chốt: hạn chế về địa bàn khảo sát, việc thiếu khuyết nhân tố Giá cả tổng thể và sự vắng mặt của nhân tố Quản lý rủi ro trong các mô hình thực nghiệm trước đây tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam
Chương 2 thiết lập khung lý luận cốt lõi cho luận án. Tác giả làm rõ bản chất kinh tế của giao dịch cho thuê tài chính, đặc điểm hoạt động của công ty cho thuê tài chính như một tổ chức tín dụng phi ngân hàng, phân biệt giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành. Chương này phân tích các mô hình nền tảng của Michael Porter gồm Mô hình chuỗi giá trị, Mô hình kim cương (Hình 2.2), Mô hình năm áp lực cạnh tranh (Hình 2.3) và Mô hình hai thành phần trong năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (Hình 2.4). Thông qua Bảng 2.1 (nhân tố năng lực cạnh tranh quốc gia) và Bảng 2.2 (nhân tố năng lực cạnh tranh công ty), tác giả tiến hành tổng hợp và lập Bảng 2.3 đề xuất bổ sung các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh áp dụng cho các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam. Mô hình đề xuất xác lập 10 nhân tố bên trong (Nhân lực, Tài chính, Quản trị điều hành, Chất lượng phục vụ, Quy mô – Mạng lưới, Giá cả, Sản phẩm – Dịch vụ, Thương hiệu, Marketing, Quản lý rủi ro). Tại Bảng 2.4, tác giả xây dựng hệ thống các giả thuyết nghiên cứu kỳ vọng (từ H1 đến H10), giả định rằng cả 10 nhân tố nội lực này đều có tác động thuận chiều (+) đến năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính. Đồng thời, chương 2 đưa ra bảng đo lường chi tiết cho các biến quan sát ứng với từng khái niệm nghiên cứu.
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 3 trình bày chi tiết phương pháp luận và quy trình thực hiện nghiên cứu (Hình 2.1/3.1 trong danh mục hình/bảng). Tác giả thiết kế quy trình hai bước gồm nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng. Phần nghiên cứu định tính mô tả nguồn dữ liệu sơ cấp, đối tượng phỏng vấn sâu là các chuyên gia đầu ngành, quy trình phân tích dữ liệu định tính được tóm tắt tại Bảng 3.1 nhằm sàng lọc và hiệu chỉnh thang đo. Phần nghiên cứu định lượng nêu rõ quy trình thu thập dữ liệu bằng bảng hỏi chi tiết, kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện có chọn lọc đối với nhóm chuyên gia, cán bộ quản lý và chuyên viên trong ngành cho thuê tài chính và ngân hàng. Cơ cấu mẫu nghiên cứu và số lượng phiếu khảo sát phát ra, thu về được trình bày tại Bảng 3.2. Cuối chương, tác giả thuyết minh chi tiết quy trình xử lý dữ liệu qua phần mềm SPSS và AMOS: từ làm sạch dữ liệu, thống kê mô tả, kiểm định hệ số tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích nhân tố khẳng định CFA, mô hình hóa phương trình cấu trúc SEM, kỹ thuật lặp mẫu Bootstrap đến kiểm định Independent Samples T-Test nhằm so sánh sự khác biệt quan điểm giữa các nhóm mẫu.
Chương 4: Kết quả và thảo luận
Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu thực nghiệm và kết quả phân tích thống kê. Mở đầu là kết quả nghiên cứu định tính điều chỉnh thang đo các biến quan sát. Tiếp đó là kết quả nghiên cứu định lượng chính thức:
- Bảng 4.2 thể hiện kết quả thống kê mô tả (Descriptive Statistics) của các biến quan sát.
- Bảng 4.3 tổng hợp hệ số Cronbach's Alpha của 10 thang đo thành phần và thang đo năng lực cạnh tranh, khẳng định các biến quan sát đều đạt độ tin cậy nội tại yêu cầu.
- Bảng 4.4 và Bảng 4.6 trình bày kết quả kiểm định KMO và Bartlett's Test (hệ số KMO đạt giá trị cao, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê với $p < 0,05$), chứng minh dữ liệu phù hợp để phân tích nhân tố.
- Bảng 4.5 và Bảng 4.7 trình bày Ma trận xoay của mô hình và Bảng giải thích tổng phương sai trích (Total Variance Explained), xác nhận các biến quan sát hội tụ vào đúng 10 nhân tố độc lập được giả định mà không có hiện tượng tải chéo vi phạm tiêu chuẩn.
- Hình 4.1 trình bày Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA, cho thấy mô hình đo lường đạt độ tương thích tốt với dữ liệu thị trường.
- Hình 4.2 và Bảng 4.8 công bố Kết quả nghiên cứu SEM và Trọng số hồi quy chuẩn hóa (Regression Weights), chỉ rõ chiều hướng và mức độ tác động cụ thể của từng nhân tố: các nhân tố Nhân lực, Giá cả, Quản lý rủi ro, Tài chính, Chất lượng phục vụ, Quản trị điều hành, Quy mô - Mạng lưới, Sản phẩm, Thương hiệu và Marketing đều có tác động có ý nghĩa thống kê đến Năng lực cạnh tranh.
- Bảng 4.9 công bố Kết quả kiểm định Bootstrap chứng minh độ chệch của các ước lượng là không đáng kể, khẳng định tính ổn định và độ tin cậy của mô hình cấu trúc.
- Bảng 4.10 thể hiện Kết quả kiểm định Independent Samples T-Test, xác định sự đồng thuận cao và không có khác biệt mang tính thống kê giữa các nhóm chuyên gia thuộc các khối tổ chức khác nhau về mức độ tác động của các nhân tố.
Phần sau của Chương 4 dành cho việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam: khái quát quá trình hình thành các công ty từ năm 1997 đến nay; phân tích danh mục sản phẩm và hợp đồng cho thuê; mô tả quy trình cho thuê tài chính thực tế qua sơ đồ Hình 4.3; lập danh sách phân loại các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam; phân tích hiệu quả kinh doanh của 5 công ty đại diện dựa trên Biểu đồ tổng dư nợ giai đoạn 2012–2018 (Hình 4.4) và Biểu đồ mức nộp ngân sách/thuế giai đoạn 2012–2018 (Hình 4.5); từ đó đánh giá vai trò của công ty cho thuê tài chính đối với nhu cầu vốn và tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam.
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương 5 tóm lược kết quả nghiên cứu và đưa ra các căn cứ thực tiễn để xây dựng hàm ý chính sách dựa trên tiềm năng ngành, tác động đến nền kinh tế và định hướng phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng đến năm 2025, định hướng 2030 của Chính phủ. Tác giả đề xuất 10 nhóm hàm ý chính sách tương ứng với 10 nhân tố theo mức độ tác động:
- Đối với nhân tố Nhân lực (NL): Đào tạo chuyên sâu về kỹ năng phân tích dự án đầu tư thiết bị, kỹ năng định giá tài sản và bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp.
- Đối với nhân tố Tài chính (TC): Tăng vốn điều lệ, mở rộng kênh huy động vốn trung và dài hạn qua phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tối ưu hóa hệ số an toàn vốn.
- Đối với nhân tố Quản trị điều hành (QT): Tinh gọn bộ máy, chuẩn hóa quy trình ra quyết định, ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát nội bộ.
- Đối với nhân tố Chất lượng phục vụ (CL): Cắt giảm các bước rườm rà trong quy trình xử lý hồ sơ, rút ngắn thời gian phê duyệt tài trợ thuê tài chính.
- Đối với nhân tố Quy mô – Mạng lưới (QM): Mở rộng mạng lưới chi nhánh tại các khu công nghiệp, vùng kinh tế trọng điểm nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất.
- Đối với nhân tố Giá cả (GC): Xây dựng biểu lãi suất linh hoạt cạnh tranh; xác lập mức ký quỹ hợp lý (10–15%) dựa trên mức độ tín nhiệm của khách hàng; liên kết chặt chẽ với nhà sản xuất để đàm phán giá mua tài sản ưu đãi.
- Đối với nhân tố Sản phẩm – Dịch vụ (SP): Phát triển các gói cho thuê tài chính kết hợp dịch vụ bảo trì, thí điểm chuẩn bị điều kiện triển khai cho thuê tài sản là bất động sản và đẩy mạnh cho thuê vận hành.
- Đối với nhân tố Thương hiệu (TH): Tận dụng uy tín và hệ sinh thái của các ngân hàng thương mại mẹ, gia tăng truyền thông về lợi ích của công cụ cho thuê tài chính đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Đối với nhân tố Marketing (MK): Đẩy mạnh tiếp thị trực tiếp đến các hiệp hội ngành nghề, phân khúc khách hàng theo loại hình máy móc thiết bị có nhu cầu cao.
- Đối với nhân tố Quản lý rủi ro (RR): Hoàn thiện quy trình thẩm định phương án kinh doanh của bên thuê; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng; tăng cường kiểm tra thực địa định kỳ hiện trạng tài sản cho thuê; phối hợp chặt chẽ với cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm và cơ quan thi hành án để xử lý tài sản khi phát sinh nợ quá hạn theo Nghị định 39/2014/NĐ-CP và Thông tư 13/2018/TT-NHNN.
Chương 5 khép lại bằng việc nêu rõ các hạn chế của đề tài và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án của tác giả Phạm Đình Dzu đã tổng kết những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Đóng góp về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp và công ty cho thuê tài chính; chỉ ra được các điểm khuyết thiếu của các mô hình nghiên cứu tiền nhiệm tại thị trường Việt Nam.
- Xây dựng mô hình nghiên cứu mới gồm 10 nhân tố nội lực tác động đến năng lực cạnh tranh của công ty cho thuê tài chính. Trong đó, luận án đã bổ sung hai nhân tố mới là Giá cả (GC) và Quản lý rủi ro (RR). Luận án làm rõ biến Giá cả không đồng nhất với cạnh tranh lãi suất mà bao gồm ba yếu tố: Lãi suất, Tỷ lệ tiền ký quỹ và Giá mua tài sản ban đầu; đồng thời chỉ rõ Quản lý rủi ro gồm ba thành phần nghiệp vụ then chốt: Khâu thẩm định, Khâu thu hồi nợ và Khâu quản lý tài sản cho thuê.
- Chuẩn hóa và kiểm định thành công hệ thống thang đo bằng các công cụ kinh tế lượng hiện đại (CFA, SEM và Bootstrap), cung cấp một khung đo lường có độ tin cậy và giá trị khoa học cho nghiên cứu quản trị ngân hàng và định chế tài chính phi ngân hàng.
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các công ty cho thuê tài chính tiêu biểu tại Việt Nam trong giai đoạn 2012–2018 (qua phân tích biến động tổng dư nợ, quy trình nghiệp vụ và mức độ đóng góp thuế cho ngân sách).
- Kết quả kiểm định hồi quy SEM xác thực mức độ tác động của từng nhân tố bên trong, tạo căn cứ định lượng để các nhà quản trị nhận biết rõ thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn lực nội bộ.
- Đề xuất hệ thống 10 nhóm hàm ý chính sách thực tiễn gắn liền với từng nhân tố, đồng thời đưa ra các kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện phát triển lành mạnh thị trường cho thuê tài chính phù hợp với Chiến lược phát triển ngành ngân hàng đến năm 2025, định hướng 2030.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án đã nêu rõ các hạn chế nghiên cứu tại mục 5.3:
- Mô hình nghiên cứu chỉ tập trung phân tích và kiểm định các nhân tố bên trong (nội lực) của công ty cho thuê tài chính, chưa tích hợp đồng thời các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài (như môi trường kinh tế vĩ mô, biến động lãi suất thị trường, thay đổi chính sách tài khóa, áp lực cạnh tranh từ các định chế tài chính quốc tế) vào trong cùng một mô hình cấu trúc phương trình tuyến tính.
- Dữ liệu khảo sát sơ cấp chủ yếu tập trung vào đối tượng là các chuyên gia, nhà quản lý và chuyên viên công tác trong ngành tài chính - cho thuê tài chính và các nhà khoa học, chưa mở rộng thu thập ý kiến trực tiếp từ phía khách hàng (các doanh nghiệp thuê tài chính) để thực hiện đối chiếu đánh giá đa chiều.
- Dữ liệu thứ cấp phản ánh thực trạng kết quả kinh doanh của các công ty cho thuê tài chính đại diện dừng lại ở chuỗi số liệu giai đoạn 2012–2018.
Từ những hạn chế trên, hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả đề xuất là: mở rộng mô hình nghiên cứu kết hợp cả nhân tố nội lực và ngoại lực; mở rộng mẫu khảo sát sang đối tượng khách hàng doanh nghiệp sử dụng dịch vụ cho thuê tài chính; cập nhật chuỗi số liệu tài chính ở các giai đoạn tiếp theo để theo dõi biến động năng lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng.
Giá trị tham khảo
Nội dung luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính – Ngân hàng: Tham khảo quy trình thiết kế nghiên cứu kết hợp (mixed-methods), quy trình phân tích dữ liệu định lượng nâng cao trên phần mềm SPSS và AMOS (từ Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM đến Bootstrap và T-Test) và phương pháp xây dựng bảng hỏi, chuẩn hóa thang đo cho các nghiên cứu về định chế tài chính.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu: Sử dụng tài liệu này như một nguồn tổng quan tài liệu có hệ thống về các trường phái lý thuyết năng lực cạnh tranh (Cổ điển, Tân cổ điển, Hiện đại, mô hình kim cương của Porter, mô hình APP của Momaya) và dữ liệu thực chứng về thị trường cho thuê tài chính Việt Nam giai đoạn 2012–2018.
- Ban điều hành và nhà quản trị các công ty cho thuê tài chính: Tham khảo 10 nhóm giải pháp nội lực để tái cấu trúc quy trình vận hành; đặc biệt chú trọng khâu cấu trúc giá cho thuê (chính sách lãi suất, tỷ lệ ký quỹ an toàn) và xây dựng hệ thống kiểm soát rủi ro chặt chẽ từ thẩm định dự án đến thu hồi nợ và quản lý hiện trạng tài sản cho thuê nhằm hạn chế nợ xấu.
- Cơ quan hoạch định chính sách (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Có cơ sở thực tiễn để rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật (như Nghị định 39/2014/NĐ-CP, Thông tư 13/2018/TT-NHNN), tháo gỡ các vướng mắc về xử lý tài sản cho thuê khi phát sinh tranh chấp hợp đồng và hoàn thiện cơ chế huy động vốn cho các tổ chức tín dụng phi ngân hàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án đã bổ sung hai nhân tố mới nào vào mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam?
Luận án đã bổ sung hai nhân tố mới là Giá cả (GC) và Quản lý rủi ro (RR). Trong đó, Giá cả được đo lường thông qua ba yếu tố: Lãi suất, Tiền ký quỹ và Giá tài sản. Quản lý rủi ro được đo lường thông qua ba yếu tố: Khâu thẩm định, Khâu thu hồi nợ và Khâu quản lý tài sản cho thuê.
2. Vì sao tác giả luận án cho rằng nhân tố Giá cả trong cho thuê tài chính không chỉ đơn thuần là Cạnh tranh lãi suất?
Theo tác giả, lãi suất cho thuê chỉ là một bộ phận của giá dịch vụ. Trong thực tế ngành cho thuê tài chính tại Việt Nam, giá cả dịch vụ hình thành từ: Lãi suất (thả nổi hoặc cố định với biên độ dao động 2–3%); Tiền ký quỹ ban đầu (bắt buộc bên thuê thanh toán trước, thường dao động 10–15% giá trị tài sản để bảo đảm an toàn vốn); và Giá tài sản ban đầu (phụ thuộc vào sự liên kết giữa công ty cho thuê tài chính và nhà cung cấp, việc kiểm soát giá này nhằm ngăn ngừa sự bắt tay nâng khống giá tài sản). Do đó, việc chỉ xét cạnh tranh lãi suất như nghiên cứu trước đây là chưa phản ánh đầy đủ cấu trúc chi phí mà khách hàng phải chi trả.
3. Hoạt động quản lý rủi ro của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam được điều chỉnh bởi các văn bản pháp lý nào và vì sao cần chú trọng quản lý tài sản cho thuê?
Quản lý rủi ro trong ngành cho thuê tài chính chịu sự điều chỉnh của Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 của Ngân hàng Nhà nước (quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và các rủi ro trọng yếu như rủi ro tín dụng, hoạt động, thị trường, thanh khoản) và Nghị định số 39/2014/NĐ-CP của Chính phủ (quy định về hoạt động của công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các trường hợp chấm dứt hợp đồng trước hạn). Việc quản lý tài sản cho thuê là cốt lõi vì tài sản bảo đảm trong cho thuê tài chính chính là động sản do bên thuê trực tiếp nắm giữ và vận hành sản xuất; nếu không kiểm tra thực địa và quản lý tốt, tài sản có thể bị hư hại, mất mát hoặc bị đem thế chấp trái phép.
4. Luận án đã sử dụng những kỹ thuật phân tích thống kê định lượng nào trong Chương 4 để kiểm định mô hình?
Luận án đã sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để thực hiện tuần tự các kỹ thuật: Thống kê mô tả (Bảng 4.2), Đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (Bảng 4.3), Phân tích nhân tố khám phá EFA qua hệ số KMO và kiểm định Bartlett (Bảng 4.4, 4.6), Ma trận xoay nhân tố và Tổng phương sai trích (Bảng 4.5, 4.7), Phân tích nhân tố khẳng định CFA (Hình 4.1), Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM và Trọng số hồi quy (Hình 4.2, Bảng 4.8), Kiểm định lặp Bootstrap để xác nhận độ vững của mô hình (Bảng 4.9) và Kiểm định Independent Samples T-Test để so sánh ý kiến các nhóm khảo sát (Bảng 4.10).
5. Dữ liệu thứ cấp dùng để đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh trong luận án bao gồm những số liệu nào và thuộc giai đoạn nào?
Dữ liệu thứ cấp được luận án thu thập từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam trong giai đoạn 2012–2018. Số liệu tập trung vào các chỉ tiêu kinh doanh của các công ty đại diện (ACBL, SBL, VCBLC, BIDVLC, VILC...), cụ thể là diễn biến Tổng dư nợ giai đoạn 2012–2018 (Hình 4.4) và Tổng mức nộp thuế/ngân sách nhà nước giai đoạn 2012–2018 (Hình 4.5).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Đình Dzu đã xây dựng và kiểm định thành công mô hình cấu trúc 10 nhân tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam, trong đó bổ sung hai nhân tố mới là Giá cả và Quản lý rủi ro. Thông qua việc kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng với các kỹ thuật phân tích nâng cao (CFA, SEM, Bootstrap), công trình đã khắc phục các hạn chế về phương pháp và khoảng trống lý thuyết của các nghiên cứu tiền nhiệm trong nước. Kết quả thực nghiệm và các phân tích thực trạng giai đoạn 2012–2018 là cơ sở khoa học để luận án đề xuất 10 nhóm hàm ý chính sách thực tiễn, đóng góp giải pháp nâng cao nội lực cạnh tranh cho hệ thống các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam.