CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU VÀ SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH MẶT HÀNG CÀ PHÊ VIỆT NAM XUẤT KHẨU SANG THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC 1. Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Cạnh tranh Tùy vào mỗi nghiên cứu, mỗi góc độ, có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ cạnh tranh.
Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam, “cạnh tranh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh bị chi phối bởi quan hệ cung cầu, nhằm giành được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất (Từ điển Bách Khoa Việt Nam, 1995). Theo Karl Marx “cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2004, tr.48) Nhà kinh tế học người Mỹ Michael Porter thì cho rằng cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (Michael Porter, 2009).
Như vậy, cạnh tranh được hiểu và được khái quát một cách chung nhất đó là cuộc ganh đua gay gắt vì mục tiêu lợi nhuận giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần hay giành lấy sự lựa chọn của khách hàng đối với sản phẩm của mình. Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, tuy mang đến nhiều hạn chế và tiêu cực cho những doanh nghiệp nhỏ, dẫn đến tình trạng phân hóa sản xuất, nhưng không thể phủ nhận rằng cạnh tranh đã trở thành động lực thúc đẩy sản xuất, tạo cơ chế tự điều chỉnh cho thị trường, đem lại tác động tích cực cho toàn nền kinh tế, toàn xã hội. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Năng lực cạnh tranh và các cấp độ của năng lực cạnh tranh 1.
Định nghĩa năng lực cạnh tranh Cho đến nay, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” vẫn chưa có một định nghĩa chính thức và rõ ràng. Theo Michael Porter thì “NLCT của một chủ thể chính là khả năng, ứng dụng, khai thác các nguồn lực sẵn có để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn các chủ thể khác hoạt động trong cùng một môi trường” (Michael Porter, 2009). Từ đó, ta có thể bao quát rằng NLCT là khả năng khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nội sinh trong mối tương quan với các chủ thể tương tự để giành lấy thị phần trên thị trường, tăng khả năng khai thác các cơ hội trong thị trường hiện tại và làm nảy sinh cơ hội trong thị trường mới cũng như thu được lợi nhuận. Ngắn gọn hơn, ta có thể hiểu NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.
Các cấp độ của năng lực cạnh tranh Người ta thường nghiên cứu NLCT ở 4 cấp độ: NLCT quốc gia, NLCT ở cấp độ ngành, NLCT của doanh nghiệp và NLCT cấp độ sản phẩm. Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), NLCT quốc gia được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng kinh tế bền vững trong môi trường và thị trường thế giới. Nhìn chung, về mặt cơ bản NLCT quốc gia là khả năng của một quốc gia trong việc tận dụng các nguồn lực cùng với các chính sách quản lý để giữ vững tăng trưởng kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống của người dân. Theo báo cáo của WEF thực hiện tại 138 nước giai đoạn 2016 - 2017 cho thấy, Việt Nam đứng thứ 60 trên bảng xếp hạng NLCT toàn cầu, mặc dù tăng 12 bậc so với vị trí 68 trong giai đoạn 2014 – 2015, nhưng xét đến giai đoạn ngay trước đó 2015-2016, Việt Nam lại bị tụt hạng từ vị trí 56/140.
So với mặt bằng chung, chỉ số LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cạnh tranh của nước ta vẫn còn khá thấp, đứng thứ 6 so với các quốc gia đang phát triển khác trong khu vực Đông Nam Á, lần lượt sau Philippines, Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Singapore. Năng lực cạnh tranh ở cấp độ ngành Một ngành sản xuất có năng lực cạnh tranh khi yếu tố năng suất toàn bộ bằng hoặc cao hơn một mức xác định của đối thủ cạnh tranh, kết quả cuối cùng là ngành đó đứng vững trên thị trường cả trong và ngoài nước dựa trên những yếu tố như hiệu quả sản xuất – kinh doanh, công nghệ tiên tiến, tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn và lao động để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Như vậy, NLCT cấp ngành là khả năng duy trì hay tăng trưởng lợi nhuận của các doanh nghiệp tham gia vào ngành trên thị trường trong nước và quốc tế. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng được tiếp cận qua rất nhiều cách thức khác nhau.
Một là, NLCT của doanh nghiệp là “sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao”. Hai là, NLCT của DN là “sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các DN phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế” (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD). Ba là, “khả năng của doanh nghiệp thực hiện tốt hơn đối thủ cạnh tranh trong việc đạt được mục tiêu quan trọng nhất là lợi nhuận” (Michael Porter, 2009). Từ đó, ta có thể khái quát về NLCT của doanh nghiệp một cách đơn giản như sau: NLCT của doanh nghiệp là tích hợp toàn bộ khả năng và nguồn lực của doanh nghiệp để duy trì và phát triển thị phần và lợi nhuận, tạo ra các ưu thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác trên một thị trường mục tiêu xác định.
Năng lực cạnh tranh cấp độ sản phẩm Theo quan điểm của Tiến sĩ Nguyễn Viết Lâm (2014) thì “NLCT của sản phẩm là khả năng trao đổi sản phẩm, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. NLCT của một sản phẩm phụ thuộc vào lợi thế so sánh của nó”. Còn theo Michael Porter khi bàn về NLCT của sản phẩm, ông cho rằng, “NLCT của sản phẩm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 là sự vượt trội của nó theo nhiều chỉ tiêu (chất lượng, giá cả, thời gian giao hàng, dịch vụ) so với sản phẩm do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường” (Michael Porter, 2009). Vậy, ta có thể hiểu rằng NLCT ở cấp độ sản phẩm là năng lực tạo ra, duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận thông qua việc giảm thiểu chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng được, hạ giá thành mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó. Như vậy, giữa bốn cấp độ của NLCT mối quan hệ phụ thuộc, qua lại lẫn nhau. NLCT của sản phẩm là yếu tố cơ bản tạo nên NLCT của DN, góp phần nâng cao NLCT của ngành và quốc gia. Ngược lại NLCT của quốc gia sẽ tạo điều kiện cho các ngành sản xuất trong nước ngày càng được mở rộng, các DN thuộc các ngành sản xuất này sẽ có nhiều cơ hội hơn khi tham gia vào thị trường trong và ngoài nước, từ đó nâng cao NLCT của DN, tạo sức hấp dẫn của sản phẩm đối với người tiêu dùng, điều này dẫn đến NLCT của sản phẩm.
Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế Trong nghiên cứu, để đánh giá năng lực cạnh tranh của một sản phẩm nào đó, người ta có thể dùng đến cả hai chỉ tiêu định lượng và định tính. Về các chỉ tiêu định lượng, bao gồm: hệ số lợi thế so sánh biểu hiện RCA, thị phần, chỉ số giá. Bên cạnh đó, các chỉ tiêu định tính bao gồm: thương hiệu, kênh phân phối, chất lượng và vấn đề an toàn vệ sinh. Các chỉ tiêu định lượng Hệ số lợi thế so sánh biểu hiện RCA (Revealed Competitive Advantage) Hệ số lợi thế so sánh biểu hiện do nhà kinh tế học Balassa đề xuất vào năm 1965, dùng để đo lường lợi thế so sánh theo số liệu xuất khẩu, chỉ ra khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu của một quốc gia về một sản phẩm trong mối tương quan với mức xuất khẩu về sản phẩm đó của thế giới.
Phương pháp tính: lấy tỷ trọng của một sản phẩm trong tổng xuất khẩu của một quốc gia (vùng) chia cho tỷ trọng của sản phẩm đó trong tổng xuất khẩu của thế giới. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Công thức tính: 𝑋𝑗𝑖⁄ 𝑖 𝑅𝐶𝐴 = 𝑗 𝑋 𝑊⁄ 𝑊 Trong đó: RCA: lợi thế so sánh biểu hiện của mặt hàng xuất khẩu của một quốc gia 𝑋𝑗𝑖 : Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j của nước i 𝑋 𝑖 : Tổ ng kim ngạch xuất khẩu của nước i 𝑊 𝑗 : Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm j của thế giới W: Tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới Kết quả tính: Khi so sánh hệ số RCA của cùng một sản phẩm ở hai quốc gia, hệ số RCA càng cao thì lợi thế so sánh càng cao. RCA < 1 : sản phẩm xem xét không có lợi thế so sánh. 1 < RCA < 2,5 : sản phẩm xem xét có lợi thế so sánh.
RCA > 2,5 : sản phẩm xem xét có lợi thế so sánh cao. RCA thể hiện lợi thế so sánh thực của một quốc gia, nó đo lường mức độ chuyên môn hoá thương mại của một quốc gia. RCA có ý nghĩa trong việc xây dựng chiến lược và xác định tiềm năng xuất khẩu nông sản của quốc gia. Thị phần Mỗi DN hay sản phẩm thường có những khu vực thị trường riêng và số lượng khách hàng nhất định.
Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà DN hay sản phẩm đó đó đang chiếm lĩnh.