Chương 1: Một số khía cạnh lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 1.1 Những vấn đề chung về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 1.1 Khái niệm Trong Đại từ điên Tiếng Việt, Bảo hiểm được định nghĩa là “ Bảo hiểm là giữ, phòng để khỏi xảy ra tai nạn nguy hiểm” và “ Bảo hiểm là sự trợ giúp hay đền bù vật chất khi ốm dau tai nạn, trong trường hợp đương sự tham gia hoạt động bảo hiểm” và “ Bảo hiểm tài sản là loại bảo hiểm mà đối tượng là tài sản vật chất như nhà cửa, thiết bị máy móc, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu, hàng hoá cây trồng. [22] Trong trình phát triển của bảo hiểm thương mại, ban đầu bảo hiểm chỉ mang tính chất sơ khai, tự phát với phạm vi nhỏ hẹp. Tuy nhiên do yêu cầu thực tiến, dần dần các khái niệm về bảo hiểm cũng đã được hình thành và phát triển ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Có rất nhiều khái niện về bảo hiểm, nó tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực như bảo hiểm bao gồm, luật, kinh tế học, lịch sử, khoa học thực tế, lý thuyết về rủi ro và khoa học xã hội.
Khái niệm bảo hiểm bao gồm cả bảo hiểm thương mại và bảo hiểm xã hội, bởi hai hình thức bảo hiểm này được phân biệt bới tính chất thương mại ( hay còn gọi là kinh doanh rủi ro) và tính chất xã hội (tính cân bằng trong chỉ tiêu của nguồn quỹ bảo hiểm, họ không kinh doanh trên mục đích là tìm kiếm lợi nhuận). Trong phạm vi đề tài của Luận văn, tác giả chỉ mong muốn đưa ra một số khái niệm được sử dụng rộng rãi trên thế giới và tập trung chủ yếu vào bảo hiểm thương mại. Theo Uỷ ban thuật ngữ bảo hiểm của Hiệp hội bảo hiểm và rủi ro Hoa Ky thì “ Bảo hiểm là sự tập trung các tồn thất bất ngờ bằng việc chuyển giao 5 những rủi ro gây ra chúng cho những người bảo hiểm khi họ cam kết bồi thường những tổn thất này, cung cấp các quyền lợi bằng tiền khác khi tổn thất xảy ra hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến rủi ro”. Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì “ Bảo hiểm là sự thoả thuận qua đó một bên (người bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự có xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm.
Đề chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm” Theo Iring Preffer “ Bảo hiểm là một sách lược để giảm tính không chắc chắn của một bên gọi là người được bảo hiểm, thông qua sự chuyển giao những rủi ro cá biệt tới một bên khác - gọi là người nhận bảo hiểm ít nhất là một phần nào đó những thiệt hại kinh tế mà người được bảo hiểm bị tổn thất”.[10, tr 7] Hoặc theo Dennis Kessler “ Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bat hạnh của số it”.7] Bảo hiểm là biện pháp chia nhỏ tồn that của một người hay một số ít người có cùng khả năng chịu rủi ro nào đó thông qua việc tổ chức ra một quỹ tài chính tập trung huy động từ các cá nhân, tổ chức tham gia bảo hiểm dưới dạng phí bảo hiểm, dé bồi thường hoặc bù đắp những tồn thất do những rủi ro đó gây ra” Có thể hiểu bảo hiểm một cách đơn giản thì bảo hiểm chính là một phương sách xử lý rủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro trong từng nhóm người được thực hiện qua hoạt động kinh doanh bảo hiểm các các tổ chức bảo hiểm. Dé nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, sau khi tìm hiểu khái niệm về bảo hiểm phi nhân thọ, một khái niệm quan trọng nhất mà tác giả muốn tìm hiểu và là cơ sở lý thuyết dé nghiên cứu các phần sau chính là thuật ngữ - Năng lực cạnh tranh. Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ quốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm. Và hiện nay chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cnah tranh.
Tuy nhiên hai hệ thống lý thuyết với hai phương thức đánh giá được sử dụng nhiều nhất ở các quốc gia : Phương pháp thứ nhất do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) thiết lập trong Báo cáo cạnh tranh toàn cầu; Phương pháp thứ hai do Viện quốc tế về quản lý và phát triển dé xuất trong niên giám cạnh tranh thế giới. Cả hai phương pháp này trên do các giáo sư đại học Harvard như Micheal Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia tiếp hành nghiên cứu. Trong đó xác định rõ yéu tố cầu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng bù đấp chỉ phí, duy trì lợi nhuận và được đo bằng thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường. Năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thé được xác định trên 4 nhóm.
yếu tố cấu thành sau: - Chất lượng, khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hoá các dau vào - Các ngành sản xuất và dich vụ trợ giúp cho doanh nghiệp - Yêu cầu của khách hàng về chất lượng hàng hoá, dịch vụ - Vị thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh. [30] Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây chính là yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp.một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường.
Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Cạnh tranh được coi là nền tảng của chủ nghĩa tư bản vì cạnh tranh có khả năng kích thích sự đổi mới, nâng cao hiệu năng cũng như làm giá cả. cạnh tranh còn được xem như hình mẫu đề chủ nghĩa tư bản điều chỉnh lại chính mình. Theo lý thuyết vĩ mô, không có một hệ thống phân phối nguồn lực nào hiệu quả hơn cạnh tranh lành mạnh.
Chính cạnh tranh khiến những doanh nghiệp thương mại phải phát triển sản phẩm, dịch vụ và công nghệ mới. Và điều này mang lại cho khách hàng những sản phẩm tốt hơn. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cạnh tranh có thẻ dẫn đến sự lãng phí những nguồn lực và những chỉ phí có thé bị đội lên. Tương tự, những ảnh hưởng về mặt tâm lý của cạnh tranh có thé dẫn đến những tác hại không lường trước được.
Cạnh tranh kinh tế được phân ra làm 3 loại, cạnh tranh hẹp nhất đó là cạnh tranh trực tiếp (còn được gọi là cạnh tranh hạng mục hay cạnh tranh thương hiệu) — ở loại hình cạnh tranh này, các sản phẩm có chức năng giống nhau sẽ thay thế cạnh tranh với nhau. Hình thức tiếp theo là cạnh tranh thay thế, các sản phẩm có thể thay thế nhau cạnh tranh với nhau. Hình thức cạnh tranh phổ biến nhất là cạnh tranh về giá, ở hình thức này, điều quan trọng là bạn phải làm thé nào dé người tiêu dùng muốn dùng số tiền nhàn rỗi của mình dé mua sản phẩm của bạn. Cạnh tranh không nhát thiết là phải giữa các công ty với nhau mà có thể trong chính công ty, giữa các bộ phận hay giữa các nhân viên trong công ty.
Một điều cần chú ý đó là cạnh tranh kinh doanh ở hầu hết các quốc gia luôn tổn tại những giới hạn và hạn chế. Cạnh tranh thường phụ thuộc vào các ràng buộc pháp lý. Các ràng buộc pháp lý thường tạo ra sự công bằng và bình đẳng trong cạnh tranh. Những quy định này bao gồm việc chống độc quyền và lừa đảo giá.
Dựa trên chính sách kinh tế tương ứng, sự cạnh tranh lành mạnh là nhằm tới một phạm vi cạnh tranh lớn hơn hoặc nhỏ hơn nhưng phải được điều tiết bởi chính sách cạnh tranh và luật cạnh tranh. Người ta có thể sử dụng mô hình Diamond của Micheal Porter để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ dựa trên 04 nhân tố sau: -_ Chiến lược, cơ cấu, cạnh tranh của các doanh nghiệp: các điều kiện của quốc gia ảnh hưởng tới việc các công ty được thành lập, tổ chức và quản lý như thế nào cũng như mức độ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp - _ Điều kiện cầu về bảo hiểm: tiềm năng phát triển của ngành bảo hiểm từ góc độ người tiêu dùng, mà trong đó hiểu biết về bảo hiểm. - Nhân tế điều kiện: các nhân tố sản xuất như lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng là hết sức cần thiết để tạo sự cạnh tranh của một ngành. - Các ngành liên quan và phụ trợ: để hỗ trợ sự phát triển của ngành bảo hiểm như thị trường chứng khoán, ngành công nghệ thông tin, hệ thông ngân hàng.
Từ các khác niệm được xác định ở trên, và các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của WEF và mô hình phân tích Diamond của Micheal Porter, tác giả luận văn đưa ra các công cụ là các tiêu chí đánh giá về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ của Việt Nam đề nghiên cứu đề tài của mình.2 Các công cụ Trong môi trường kinh doanh của mình, các doanh nghiệp dù muốn hay không, đề tổn tại và phát triển được đều phải cạnh tranh với các doanh nghiệp khác không chỉ là các doanh nghiệp trong ngành còn cả các doanh nghiệp ngoài ngành. Sau khi xác định được chiến lược cạnh tranh của mình, các doanh nghiệp cần phải xác định được công cụ mà mình sẽ dùng để cạnh tranh.