Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành tại Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đào Quốc Việt, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thế Quân và GS.TSKH Nguyễn Mậu Bành, chuyên ngành Quản lý Xây dựng (mã số: 9580302) tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội vào năm 2024.
Hoạt động đầu tư xây dựng (ĐTXD) sử dụng vốn nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng. Trước khi Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 có hiệu lực, các ban quản lý dự án (BQLDA) thường được thành lập cho từng dự án riêng lẻ và tự giải thể khi công trình hoàn thành, dẫn đến việc nhân sự phân tán, tri thức và bài học kinh nghiệm không được kế thừa, làm lặp lại các sai sót ở những dự án tiếp theo. Luật Xây dựng năm 2014 và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP đã tạo cơ sở thành lập Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành (BQLDACN) và khu vực dưới hình thức đơn vị sự nghiệp công lập để quản lý đồng thời nhiều dự án sử dụng vốn nhà nước. Dù vậy, hệ thống pháp lý hiện hành chỉ quy định các hình thức tổ chức mà chưa có hướng dẫn chi tiết về tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động. Các lý thuyết quản trị tổ chức hiện hành chủ yếu áp dụng cho một tổ chức đơn lẻ, vì lợi nhuận, không bao quát được bản chất liên tổ chức, phi lợi nhuận và yêu cầu quản lý đa dự án của BQLDACN. Đây là khoảng trống nghiên cứu chính mà luận án xác định và giải quyết.
Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định như sau:
- Mục đích nghiên cứu:
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý giúp các BQLDACN ở Việt Nam hoạt động hiệu quả hơn.
- Đảm bảo sự phù hợp của cả hai khía cạnh tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động quản lý dự án (QLDA) ĐTXD với đặc thù của loại hình tổ chức này, đáp ứng yêu cầu thực tế và xu thế phát triển của ngành xây dựng.
- Mục tiêu nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức QLDA ĐTXD sử dụng vốn nhà nước trong ngữ cảnh các tổ chức được thành lập nhằm quản lý các dự án vốn nhà nước, giới hạn trong các BQLDACN; chỉ ra các hạn chế của cơ sở lý luận hiện có.
- Nghiên cứu thực trạng tổ chức QLDA ĐTXD của các BQLDACN, làm rõ đặc điểm riêng, chỉ ra các tồn tại, nguyên nhân và vấn đề cần giải quyết.
- Đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý của BQLDACN ở Việt Nam, xác định các thành phần môi trường bên trong, bên ngoài và đề xuất các giải pháp cụ thể về tổ chức bộ máy, tổ chức hoạt động và quản trị tổ chức.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động QLDA ĐTXD của BQLDACN.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào hai thành phần cốt lõi là tổ chức bộ máy (cơ cấu tổ chức, mối quan hệ phối hợp) và tổ chức hoạt động (tập trung vào 4 nội dung chính theo quy định pháp luật: phạm vi, tiến độ, chi phí, chất lượng).
- Phạm vi đối tượng: Các BQLDACN quản lý các dự án ĐTXD sử dụng vốn nhà nước.
- Phạm vi không gian: Trên phạm vi toàn quốc.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu hoạt động từ năm 2018 (thời điểm các BQLDACN bắt đầu hoạt động ổn định sau khi Thông tư 16/2016/TT-BXD có hiệu lực và các đề án thành lập/chuyển đổi hoàn tất).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo ba nhóm nội dung chính:
Về mô hình Ban quản lý dự án:
- Nghiên cứu trong nước: Đinh Tuấn Hải (2010) phân tích 4 mô hình QLDA (chủ đầu tư tự thực hiện, thuê tư vấn QLDA, tổng thầu thiết kế - thi công, ban QLDA); BQLDA được xem là một bộ phận tách khỏi các phòng chức năng. Nghiên cứu của Bộ Xây dựng (2018) về BQLDACN qua thực tiễn dự án Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình làm rõ chức năng chủ đầu tư và tư vấn QLDA của đơn vị sự nghiệp công lập, kiến nghị ban hành hướng dẫn chi tiết.
- Nghiên cứu ngoài nước: Dusan Bobera (2007) phân loại ba mô hình cơ bản (chức năng, dự án, ma trận) dựa trên các tiêu chí chuyên môn hóa. Roland Gareis và cộng sự (2005) nghiên cứu năng lực QLDA ở ba cấp độ: cá nhân, nhóm dự án và toàn bộ tổ chức. Stanislaw Gasik (2016) nghiên cứu mô hình Văn phòng Quản lý dự án đầu tư công (PPMO) từ 93 quốc gia, hỗ trợ chính phủ về chính sách, phương pháp luận và kiểm soát dự án phức tạp.
Về tổ chức bộ máy quản lý dự án:
- Nghiên cứu trong nước: Trịnh Quốc Thắng (2010) nghiên cứu mô hình quản lý dự án trọn gói (PMC). Mai Hữu Bốn (2015) nghiên cứu tổ chức bộ máy ban quản lý khu kinh tế đặc biệt. Nguyễn Minh Đức (2014) đề xuất bộ máy điều hành 3 cấp độ để nâng cao chất lượng QLDA vốn nhà nước. Ngô Tuấn Anh (2016) và Ngô Thị Việt Nga (2017) nghiên cứu tái cơ cấu theo mô hình làm việc nhóm và mô hình hình sao (Star Model) trong doanh nghiệp may mặc và công nghệ thông tin. Nguyễn Thị Kim Sơn (2014) nghiên cứu mô hình phối hợp liên đơn vị. Nguyễn Văn Ngoan (2020) đề xuất mô hình tập trung hóa với phòng QLDA chuyên trách (PMO). Phạm Văn Phòng (2020) nghiên cứu mô hình nhóm chuyên trách và nhóm chuyên môn linh hoạt tại Vĩnh Yên.
- Nghiên cứu ngoài nước: Christine Xiaoyi Dai và William G. Wells (2004), Matin Koosha (2011) xác định 9 biến tổ chức ảnh hưởng đến hiệu quả của PMO trong ngành xây dựng. C. Gray và cộng sự (1990) so sánh quốc tế chỉ ra xu hướng dịch chuyển từ cơ cấu chức năng sang cơ cấu ma trận. Eric Alsene (1999) và K. B. Chual cùng cộng sự (2003) phân tích cơ cấu ma trận trong các tổ chức tại Hồng Kông. Guang Yang và cộng sự (2012) áp dụng lý thuyết linh hoạt vào thiết kế cơ cấu tổ chức theo từng giai đoạn dự án. Yeşim Koçyiğit (2019) chứng minh tác động của tính linh hoạt tổ chức đến khả năng đáp ứng.
Về tổ chức hoạt động quản lý dự án và động lực thay đổi:
- Nghiên cứu trong nước: Lê Hồng Thái (2010) đánh giá hạn chế trong đổi mới cơ cấu của doanh nghiệp QLDA. Tạ Văn Hưng (2018) nghiên cứu QLDA ĐTXD hạ tầng theo phương thức PPP gắn với năng lực công nghệ.
- Nghiên cứu ngoài nước: A. P. Van Der Merwe (1997) phân tích cơ cấu và kiểm soát đa dự án dựa trên nguồn lực thời gian. Về tiêu chí thành công, Al-Tmeemy và cộng sự (2011), Chan, A. P. và cộng sự (2002), Lim và Mohamed (1999), Shendar (1997), Serrador và Turner (2015) mở rộng từ tam giác ràng buộc (thời gian, chi phí, chất lượng) sang các tiêu chí chiến lược, sự hài lòng của các bên liên quan. Về phát triển bền vững và chuyển đổi số, Silvius và cộng sự (2012), Elkington (1997) với mô hình Triple Bottom Line (kinh tế, xã hội, môi trường), Labuschagne và Brent (2005), Turner và cộng sự (2010) nghiên cứu tích hợp tính bền vững vào toàn bộ vòng đời dự án.
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết:
Các nghiên cứu trước đây chưa giải thích đầy đủ cơ chế tương tác giữa tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động của loại hình BQLDACN - một thực thể công lập quản lý cùng lúc nhiều dự án liên tổ chức. Đồng thời, các công trình trong nước chưa giải quyết vấn đề thích ứng của mô hình BQLDACN trước tác động của các xu thế mới như Mô hình thông tin công trình (BIM) và định hướng phát triển bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và quan điểm hệ thống để phân tích đối tượng nghiên cứu trong trạng thái phát triển và trong mối quan hệ đa chiều giữa các yếu tố bên trong và môi trường bên ngoài.
Cơ sở lý thuyết của luận án tích hợp các nhóm lý thuyết chính:
- Lý thuyết quản trị tổ chức: Khái niệm tổ chức bộ máy quản trị và tổ chức quá trình quản trị; các thuộc tính cơ cấu tổ chức theo Robbins (chuyên môn hóa, xây dựng bộ phận, tầm kiểm soát, chuỗi mệnh lệnh, tập trung/phi tập trung, chính thức hóa); mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter; mô hình 7-S của McKinsey; phân tích PEST/PESTLE.
- Lý thuyết quản trị dự án: Tiêu chuẩn của Viện Quản lý Dự án Hoa Kỳ (PMI) trong PMBOK với 10 lĩnh vực kiến thức cốt lõi và 2 lĩnh vực mở rộng cho ngành xây dựng (Quản lý an toàn, sức khỏe, an ninh, môi trường; Quản lý tài chính dự án); tiêu chuẩn ISO 21500:2012 và IPMA; các nhóm quá trình QLDA (khởi tạo, lập kế hoạch, thực hiện, theo dõi và kiểm soát, kết thúc).
- Lý thuyết quản trị tri thức và quản lý sự thay đổi: Quá trình tiếp nhận, lưu trữ, phổ biến tri thức; mô hình thay đổi của Kurt Lewin (rã đông, chuyển đổi, đóng băng lại); mô hình thay đổi của Burke–Litwin; mô hình phát triển bền vững ba trụ cột (Triple Bottom Line).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích các văn bản pháp luật, tài liệu chuyên khảo để xây dựng khung lý thuyết.
- Phương pháp mô hình hóa: Thiết lập mô hình hệ thống phản ánh mối quan hệ giữa môi trường, tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động của BQLDACN.
- Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát thu thập dữ liệu sơ cấp từ các BQLDACN trên toàn quốc.
- Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp các báo cáo hoạt động, số liệu quản lý của các BQLDACN giai đoạn 2018-2020.
- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến các nhà khoa học, nhà quản lý để hoàn thiện bảng hỏi và kiểm định tính khả thi của các đề xuất.
- Phương pháp suy luận diễn dịch: Rút ra kết luận từ các nguyên lý tổ chức tổng quát vào trường hợp đặc thù của BQLDACN.
Khung nghiên cứu của Luận án được thực hiện qua 8 bước:
| Bước |
Nội dung |
Phương pháp nghiên cứu |
| Bước 1 |
Nghiên cứu tổng quan để tìm ra khoảng trống nghiên cứu, xác định vấn đề nghiên cứu của Luận án |
Phân tích và tổng hợp lý thuyết |
| Bước 2 |
Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến dự án ĐTXD, cơ sở lý luận về mô hình tổ chức quản lý của BQLDACN |
Phân tích và tổng hợp lý thuyết |
| Bước 3 |
Hình thành Khung lý thuyết của Luận án |
Phân tích và tổng hợp lý thuyết |
| Bước 4 |
Phân tích thực trạng mô hình tổ chức quản lý của BQLDACN tại Việt Nam |
Khảo sát sử dụng bảng hỏi, phân tích và tổng hợp |
| Bước 5 |
Chỉ ra các đặc điểm về tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động của BQLDACN, các tồn tại, nguyên nhân và hạn chế trong hoạt động QLDA ĐTXD sử dụng vốn nhà nước |
Phân tích và tổng hợp |
| Bước 6 |
Xác định các yếu tố môi trường quan trọng có ảnh hưởng lớn đến BQLDACN |
Mô hình hóa, Suy luận diễn dịch |
| Bước 7 |
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý của BQLDACN |
Mô hình hóa |
| Bước 8 |
Đề xuất một số kiến nghị hỗ trợ hiện thực hóa các giải pháp đề xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động hiệu quả của BQLDACN tại Việt Nam |
Suy luận diễn dịch |
Mục tiêu hoạt động QLDA ĐTXD được tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu quốc tế:
| TT |
Mục tiêu |
Tác giả |
Khái niệm |
| 1 |
Phạm vi |
PMI |
Mức độ đáp ứng các công việc phải phù hợp với các nội dung công việc được xác định trong giai đoạn chuẩn bị dự án |
| 2 |
Chi phí / ngân sách |
Al-Tmeemy và cộng sự, Chan và cộng sự, Lim và Mohamed, Serrador và Turner |
Mức độ ngân sách sử dụng so với ngân sách ước tính để hoàn thành các công việc dự án |
| 3 |
Thời gian / tiến độ thực hiện |
Al-Tmeemy và cộng sự, Chan và cộng sự, Lim và Mohamed, Serrador và Turner |
Tổng thời gian thực hiện thực tế so với thời gian dự án được phê duyệt hay thỏa thuận |
| 4 |
Chất lượng |
Al-Tmeemy và cộng sự, Chan và cộng sự, Lim và Mohamed |
Mức độ đáp ứng của các thông số kỹ thuật dự án so với mục tiêu đề ra |
| 5 |
An toàn |
Chan và cộng sự, Lim và Mohamed |
Mức độ mà các điều kiện chung thúc đẩy hoàn thành một dự án mà không có tai nạn hoặc chấn thương lớn |
| 6 |
Lợi nhuận |
Shendar |
Mức độ đạt được lợi nhuận dự án so với kế hoạch đề ra |
| 7 |
Sự hài lòng của khách hàng |
Al-Tmeemy và cộng sự, Serrador và Turner |
Mức độ hài lòng về kết quả so với sự mong đợi khi thực hiện dự án |
| 8 |
Sự hài lòng của nhân viên dự án |
Serrador và Turner |
Mức độ hài lòng của nhân viên thực hiện dự án |
| 9 |
Sự hài lòng của bên liên quan khác |
Chan và cộng sự |
Mức độ hài lòng về kết quả so với sự mong đợi khi thực hiện dự án như nhà nước, cộng đồng, xã hội |
Nguồn tư liệu, dữ liệu nghiên cứu bao gồm:
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ kết quả khảo sát bằng bảng hỏi gửi đến các BQLDACN thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (chi tiết tại Phụ lục 1, Phụ lục 2.1 đến 2.9).
- Dữ liệu thứ cấp: Văn bản quy phạm pháp luật (Luật Xây dựng 2014, Luật Đầu tư công, các Nghị định và Thông tư hướng dẫn), các đề án thành lập/tái cơ cấu BQLDACN, báo cáo tổng kết tình hình thực hiện dự án giai đoạn 2018-2020 của các BQLDACN.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước
Chương 1 hệ thống hóa các quan điểm cơ bản về tổ chức, mô hình và quản lý dự án. Tác giả phân tích khái niệm tổ chức dưới hai góc độ: quá trình sắp xếp nguồn lực để đạt mục tiêu và một thực thể xã hội có cấu trúc ổn định. Mô hình tổ chức được định nghĩa là sự trừu tượng hóa các mối quan hệ cấu trúc và cơ chế vận hành của tổ chức.
Tác giả tiến hành điểm luận các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mô hình tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động của BQLDA. Qua đánh giá các nghiên cứu của Đinh Tuấn Hải, Trịnh Quốc Thắng, Nguyễn Minh Đức, Stanislaw Gasik, Dusan Bobera, Christine Xiaoyi Dai, tác giả khẳng định việc nghiên cứu BQLDA trước đây chủ yếu nhìn nhận BQLDA như một thực thể tạm thời theo từng dự án hoặc áp dụng khung quản trị của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Luận án phân tích hai động lực thay đổi chính tác động mạnh mẽ đến tổ chức QLDA hiện nay:
- Sự phát triển của công nghệ thông tin, trọng tâm là Mô hình thông tin công trình (BIM).
- Yêu cầu phát triển bền vững với việc cân bằng ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường theo mô hình Triple Bottom Line.
Từ đó, chương 1 chỉ ra khoảng trống: Chưa có nghiên cứu nào phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động của BQLDACN sử dụng vốn nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam, xác lập cơ sở để triển khai các chương tiếp theo.
Chương 2: Cơ sở lý luận về mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành
Chương 2 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận nền tảng cho luận án. Tác giả làm rõ khái niệm dự án ĐTXD theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, phân loại theo công năng (dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, giao thông, nông nghiệp), theo cấp công trình (đặc biệt, cấp I đến IV), theo nguồn vốn (vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công, PPP, vốn khác) và theo quy mô/mức độ quan trọng (quan trọng quốc gia, nhóm A, B, C). Trình tự ĐTXD được phân định theo 3 giai đoạn: chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng.
Về quản lý dự án ĐTXD, tác giả xác định mục tiêu QLDA gồm các khía cạnh: phạm vi, chi phí, thời gian, chất lượng, an toàn, lợi nhuận và sự hài lòng của các bên liên quan. Nội dung QLDA được cụ thể hóa theo 12 lĩnh vực kiến thức của PMBOK (10 lĩnh vực chung và 2 lĩnh vực đặc thù cho xây dựng là an toàn - sức khỏe - môi trường và quản lý tài chính) thông qua 5 nhóm quá trình.
Đối với BQLDACN, tác giả phân tích đặc trưng của mô hình này: là đơn vị sự nghiệp công lập, vừa thực hiện chức năng chủ đầu tư/đại diện chủ đầu tư, vừa thực hiện chức năng tư vấn QLDA cho nhiều dự án song song. Tác giả phân tích các yếu tố cấu thành tổ chức bộ máy (chuyên môn hóa, xây dựng bộ phận, chuỗi mệnh lệnh) và tổ chức hoạt động (các quá trình quyết định, điều hành công việc, quản trị nhân sự). Đồng thời, chương 2 đưa nội dung quản trị tri thức (công cụ, kỹ thuật, cách tiếp cận) và quản trị sự thay đổi (các mô hình của Kurt Lewin, McKinsey 7-S, Burke-Litwin) vào khung lý thuyết để giải thích cơ chế thích ứng của tổ chức.
Chương 3: Thực trạng mô hình tổ chức quản lý của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành tại Việt Nam
Chương 3 trình bày kết quả khảo sát thực tiễn tại các BQLDACN trên phạm vi toàn quốc từ năm 2018. Dữ liệu khảo sát được tổng hợp qua 25 bảng số liệu chi tiết từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.25, tập trung vào hai mảng chính:
- Thực trạng tổ chức bộ máy:
- Cấp quyết định thành lập: BQLDACN trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ và trực thuộc UBND cấp tỉnh, thành phố.
- Chức năng, nhiệm vụ: Đa số các ban thực hiện đồng thời vai trò chủ đầu tư các dự án được giao và tư vấn QLDA cho các dự án khác giai đoạn 2018-2020.
- Cơ cấu tổ chức và phân chia phòng ban: Phổ biến là mô hình kết hợp giữa phòng chức năng nghiệp vụ (kế hoạch, kỹ thuật, tài chính - kế toán, văn phòng) và các phòng quản lý dự án chuyên trách/ban điều hành dự án.
- Huy động nhân lực và bổ nhiệm Giám đốc QLDA: Tồn tại nhiều hình thức bố trí Giám đốc QLDA (kiêm nhiệm hoặc chuyên trách), tỷ lệ nhân sự chưa đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chức danh theo quy định vẫn còn xuất hiện.
- Số lượng và chất lượng nhân lực: Tồn tại sự chênh lệch lớn về quy mô biên chế giữa các ban ở địa phương và trung ương; trình độ chuyên môn, năng lực ngoại ngữ và chứng chỉ hành nghề QLDA còn hạn chế.
- Thực trạng tổ chức hoạt động QLDA:
- Khối lượng quản lý: Quản lý đa dạng các nhóm dự án (A, B, C) với nhiều loại công trình (giao thông, dân dụng, công nghiệp, hạ tầng).
- Tham gia các giai đoạn: Các ban tham gia sâu vào giai đoạn chuẩn bị và thực hiện dự án; giai đoạn kết thúc xây dựng (đặc biệt là công tác quyết toán vốn đầu tư hoàn thành) thường bị kéo dài.
- Áp dụng công nghệ và công cụ quản lý: Mức độ ứng dụng BIM còn ở giai đoạn thí điểm sơ khai; việc áp dụng các tiêu chuẩn quản lý quốc tế (ISO, PMBOK) và phần mềm chuyên dụng chưa đồng bộ.
- Chia sẻ tri thức: Hoạt động chia sẻ bài học kinh nghiệm sau dự án phần lớn mang tính hình thức, thiếu cơ chế và nền tảng lưu trữ tri thức tập trung.
Chương 3 chỉ ra các tồn tại chính: Cơ cấu tổ chức bộ máy còn xơ cứng, cơ chế phối hợp nội bộ chậm chạp; việc quản lý các nội dung chi phí, tiến độ, chất lượng còn phụ thuộc nhiều vào thủ tục hành chính; công tác quản trị rủi ro và quản trị tri thức chưa được thiết lập bài bản.
Chương 4: Đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành tại Việt Nam phù hợp với yêu cầu thực tế hiện nay và xu thế phát triển của ngành Xây dựng
Trên cơ sở phân tích bối cảnh đầu tư công và xu thế phát triển của ngành xây dựng, chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện:
- Xác định các thành phần bên trong và cấu trúc mô hình tổ chức quản lý:
- Mô hình hóa cấu trúc gồm tổ chức bộ máy, tổ chức hoạt động và hệ thống quản trị hỗ trợ trong môi trường pháp lý và công nghệ mới.
- Hoàn thiện tổ chức hoạt động QLDA:
- Quy trình hóa các nội dung QLDA theo 4 mục tiêu cốt lõi: phạm vi, tiến độ, chi phí và chất lượng phù hợp với các giai đoạn của quy trình đầu tư xây dựng (Bảng 4.1).
- Đưa ra lộ trình và giải pháp tích hợp Mô hình thông tin công trình (BIM) vào quy trình điều hành hoạt động dự án, xác định các giai đoạn và nội dung áp dụng BIM từ chuẩn bị đầu tư đến thi công và nghiệm thu.
- Hoàn thiện tổ chức bộ máy:
- Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy linh hoạt: Kết hợp giữa các phòng chức năng quản lý chuyên môn và các Ban điều hành dự án/Tổ quản trị dự án lâm thời. Cơ chế này cho phép điều chuyển nhân sự linh hoạt theo nhu cầu thực tế của từng dự án mà không làm xáo trộn biên chế cố định của tổ chức.
- Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của Phòng Quản lý đầu tư, Phòng Quản lý dự án, Ban điều hành dự án và Tổ BIM (chi tiết tại Phụ lục 3).
- Hoàn thiện các nội dung quản trị tổ chức:
- Quản trị tri thức: Thiết lập quy trình thu thập, chuẩn hóa và tái sử dụng bài học kinh nghiệm từ các dự án đã hoàn thành; xây dựng cơ sở dữ liệu tri thức nội bộ.
- Quản trị sự thay đổi: Áp dụng các bước chuyển đổi tổ chức nhằm nâng cao năng lực thích ứng của đội ngũ nhân sự trước các thay đổi về công nghệ số và khung pháp lý.
- Các kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước:
- Kiến nghị Bộ Xây dựng và các Bộ liên quan hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết về định mức chi phí quản lý dự án, cơ chế tự chủ tài chính cho BQLDACN và tiêu chuẩn chức danh nhân sự QLDA chuyên ngành.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về mô hình tổ chức quản lý áp dụng cho Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành - một loại hình tổ chức QLDA công lập đặc thù quản lý đa dự án liên tổ chức.
- Xây dựng mô hình tổ chức quản lý tích hợp, phản ánh mối quan hệ tương hỗ giữa tổ chức bộ máy linh hoạt và tổ chức hoạt động quản lý dự án theo các nhóm quá trình, kết hợp với các công cụ quản trị tri thức và quản trị thay đổi.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt động của các BQLDACN tại Việt Nam từ năm 2018 đến thời điểm nghiên cứu thông qua hệ thống dữ liệu điều tra sơ cấp trên phạm vi toàn quốc.
- Xác định rõ các điểm nghẽn, nguyên nhân dẫn đến sự kém hiệu quả trong mô hình BQLDACN hiện nay.
- Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy linh hoạt cho BQLDACN cùng quy trình triển khai chi tiết các nội dung QLDA theo công việc xây dựng và quy trình áp dụng công nghệ BIM.
- Đề xuất các kiến nghị cụ thể gửi các cơ quan quản lý nhà nước nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ các vướng mắc về thẩm quyền, cơ chế hoạt động và tài chính cho các BQLDACN.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào các BQLDACN quản lý dự án sử dụng vốn nhà nước, chưa bao quát toàn bộ các Ban quản lý dự án khu vực cấp huyện hoặc các tổ chức quản lý dự án thuộc khối doanh nghiệp tư nhân.
- Dữ liệu hoạt động được thu thập tập trung từ năm 2018, chịu ảnh hưởng nhất định bởi giai đoạn chuyển tiếp thể chế của các văn bản pháp luật và đề án tái cơ cấu tại các địa phương.
- Nội dung tổ chức hoạt động tập trung phân tích 4 khía cạnh trọng tâm (phạm vi, tiến độ, chi phí, chất lượng); các khía cạnh an toàn, môi trường và tài chính dự án chưa được phân tích sâu ở cấp độ định lượng chi tiết.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu áp dụng mô hình cho các Ban quản lý dự án khu vực và các ban quản lý dự án quy mô nhỏ hơn.
- Nghiên cứu định lượng tác động của mức độ ứng dụng BIM đến hiệu quả rút ngắn tiến độ và kiểm soát chi phí thực tế tại các BQLDACN.
- Nghiên cứu cơ chế tự chủ tài chính toàn diện của đơn vị sự nghiệp công lập trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, các Bộ quản lý chuyên ngành, UBND các tỉnh, thành phố): Cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để rà soát, sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến mô hình, thẩm quyền và cơ chế hoạt động của ban quản lý dự án chuyên ngành.
- Lãnh đạo và cán bộ các BQLDACN: Tham khảo mô hình bộ máy linh hoạt, phương pháp tổ chức nhân sự theo Ban điều hành dự án, quy trình quản lý các mục tiêu dự án và quy trình triển khai ứng dụng BIM để áp dụng vào thực tế đơn vị.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Quản lý Xây dựng, Kinh tế Xây dựng: Cung cấp khung lý thuyết hệ thống, bộ công cụ khảo sát thực trạng (Phụ lục 1) và cơ sở dữ liệu thực tiễn chi tiết (Phụ lục 2 và 3) phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu tiếp theo.
Câu hỏi thường gặp
1. BQLDACN tại Việt Nam được thành lập trên cơ sở pháp lý nào và có tư cách pháp lý ra sao?
BQLDACN được thành lập theo quy định của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP và hướng dẫn tại Thông tư số 16/2016/TT-BXD. Đây là đơn vị sự nghiệp công lập có tư cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và ngân hàng thương mại, hoạt động theo cơ chế tự chủ một phần hoặc tự chủ hoàn toàn về chi thường xuyên.
2. Luận án xác định các nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng dựa trên tiêu chuẩn nào?
Luận án dựa trên khung quản lý dự án của Viện Quản lý Dự án Hoa Kỳ (PMBOK), bao gồm 10 lĩnh vực kiến thức chung và 2 lĩnh vực bổ sung cho ngành xây dựng là: Quản lý an toàn, sức khỏe, an ninh và môi trường; Quản lý tài chính dự án. Trong phân tích thực trạng và giải pháp, luận án tập trung sâu vào 4 nội dung cốt lõi theo Luật Xây dựng là quản lý phạm vi, tiến độ, chi phí và chất lượng.
3. Vì sao luận án lựa chọn mốc dữ liệu khảo sát từ năm 2018?
Mặc dù Luật Xây dựng có hiệu lực từ năm 2014, việc chuyển đổi và hình thành các BQLDACN chỉ bắt đầu sau khi Thông tư số 16/2016/TT-BXD có hiệu lực. Các cơ quan cấp Bộ và cấp tỉnh cần thời gian xây dựng, thẩm định và phê duyệt đề án thành lập/tái cơ cấu. Do đó, mô hình BQLDACN mới thực sự đi vào vận hành ổn định trên phạm vi cả nước từ năm 2018.
4. Mô hình tổ chức bộ máy linh hoạt do luận án đề xuất có đặc điểm gì khác biệt so với mô hình truyền thống?
Mô hình tổ chức bộ máy linh hoạt không duy trì các phòng quản lý dự án cố định gắn với nhân sự cứng nhắc. Thay vào đó, mô hình duy trì các phòng chức năng nghiệp vụ để hỗ trợ chuyên môn, đồng thời thành lập các Ban điều hành dự án/Tổ quản lý dự án lâm thời theo từng dự án cụ thể. Giám đốc QLDA và nhân sự được điều động linh hoạt theo từng giai đoạn vòng đời dự án và trở về phòng chức năng khi dự án kết thúc, giúp tối ưu hóa nguồn lực và tránh tình trạng dôi dư nhân sự.
5. Hai động lực thay đổi lớn nhất tác động đến tổ chức BQLDACN được luận án phân tích là gì?
Hai động lực chính được phân tích là: (1) Sự phát triển của công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong ngành xây dựng, trọng tâm là áp dụng Mô hình thông tin công trình (BIM); (2) Yêu cầu phát triển bền vững theo mô hình ba trụ cột (kinh tế, xã hội, môi trường), đòi hỏi tổ chức QLDA phải quản lý vòng đời công trình thay vì chỉ tập trung vào giai đoạn thi công xây lắp ngắn hạn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đào Quốc Việt đã giải quyết vấn đề khoa học và thực tiễn về việc hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp các lý thuyết quản trị tổ chức, tiêu chuẩn quản lý dự án quốc tế và dữ liệu khảo sát trên toàn quốc, công trình đã chỉ rõ bản chất liên tổ chức và các hạn chế nội tại của mô hình BQLDACN hiện nay. Hệ thống giải pháp được đề xuất về tổ chức bộ máy linh hoạt, quy trình điều hành chuẩn hóa gắn với BIM và cơ chế quản trị tri thức cung cấp cơ sở phục vụ công tác đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước.