Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ kỹ thuật nghiên cứu nghiên cứu hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý của ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Chuyên ngành

Quản lý Xây dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2024

240
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ÐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CHUYÊN NGÀNH

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CHUYÊN NGÀNH TẠI VIỆT NAM

4. CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CHUYÊN NGÀNH TẠI VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU THỰC TẾ HIỆN NAY VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH XÂY DỰNG

5. TUYỂN TẬP CÁC BÀI BÁO CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN TRÊN CÁC TẠP CHÍ KHOA HỌC CHUYÊN NGÀNH

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 2.1: THÔNG TIN CHUNG ĐƠN VỊ THAM GIA KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 2.2: LOẠI HÌNH, CHỨC NĂNG VÀ ĐẶC ĐIỂM DỰ ÁN CỦA BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CHUYÊN NGÀNH

PHỤ LỤC 2.3: TỔ CHỨC CÁC PHÒNG, BAN TRONG CÁC BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

PHỤ LỤC 2.4: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

PHỤ LỤC 2.5: ĐỘI NGŨ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

PHỤ LỤC 2.6: ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ BIM TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN

PHỤ LỤC 2.7: ÁP DỤNG TIÊU CHUẨN, QUY TRÌNH TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN

PHỤ LỤC 2.8: CHIA SẺ TRI THỨC, BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG CÁC DỰ ÁN

PHỤ LỤC 2.9: THÀNH CÔNG TRONG QUẢN LÝ DỰ ÁN

PHỤ LỤC 3: CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA PHÒNG QUẢN LÝ ĐẦU TƯ, PHÒNG QUẢN LÝ DỰ ÁN, BAN ĐIỀU HÀNH DỰ ÁN VÀ TỔ BIM

Tóm tắt

I. Giới thiệu về mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam

Mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Quản lý dự án là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả của các dự án đầu tư. Theo các nghiên cứu, mô hình tổ chức quản lý hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Việc áp dụng các chiến lược quản lý hiệu quả là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án đã cho thấy những lợi ích rõ rệt trong việc tối ưu hóa quy trình và giảm thiểu rủi ro. "Quản lý dự án đầu tư xây dựng là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan".

1.1. Tình hình hiện tại của quản lý dự án đầu tư xây dựng

Tình hình hiện tại cho thấy, các dự án đầu tư sử dụng vốn nhà nước đang gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý. Các ban quản lý dự án thường xuyên phải đối mặt với các vấn đề như thiếu nhân lực, quy trình không rõ ràng và thiếu sự phối hợp giữa các bên. "Để nâng cao hiệu quả, cần có một mô hình quản lý rõ ràng và linh hoạt hơn". Việc áp dụng các mô hình quản lý hiện đại như BIM (Mô hình thông tin công trình) có thể giúp cải thiện tình hình này.

II. Đánh giá mô hình quản lý dự án hiện tại

Mô hình quản lý dự án hiện tại tại Việt Nam có nhiều điểm mạnh và yếu. Một trong những điểm mạnh là khả năng huy động nguồn lực từ nhiều nguồn khác nhau. Tuy nhiên, mô hình này cũng gặp phải nhiều vấn đề như thiếu sự đồng bộ trong quy trình và quản lý rủi ro. "Mô hình hiện tại cần được cải thiện để đáp ứng tốt hơn với yêu cầu thực tiễn". Việc đánh giá và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình quản lý là rất quan trọng để tìm ra giải pháp tối ưu.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình quản lý

Các yếu tố bên trong và bên ngoài đều có ảnh hưởng lớn đến mô hình quản lý dự án. Các yếu tố bên trong như cơ cấu tổ chức, quy trình làm việc và nguồn nhân lực cần được xem xét kỹ lưỡng. Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài như chính sách pháp luật và môi trường kinh tế cũng đóng vai trò quan trọng. "Sự thay đổi trong môi trường kinh tế có thể tác động mạnh đến hiệu quả của các dự án đầu tư".

III. Đề xuất hoàn thiện mô hình quản lý dự án

Để nâng cao hiệu quả của mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng, cần có những đề xuất cụ thể. Việc áp dụng các công nghệ mới như công nghệ thông tinquản lý tri thức sẽ giúp cải thiện quy trình quản lý. "Cần có một khung pháp lý rõ ràng để hỗ trợ cho việc áp dụng các mô hình quản lý mới". Đề xuất này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả mà còn tạo ra một môi trường làm việc tích cực hơn cho các nhân viên.

3.1. Giải pháp áp dụng công nghệ thông tin

Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý dự án sẽ giúp tối ưu hóa quy trình và giảm thiểu sai sót. Các công cụ như BIM và phần mềm quản lý dự án có thể được sử dụng để theo dõi tiến độ và chi phí. "Công nghệ thông tin không chỉ giúp cải thiện hiệu quả mà còn tạo ra sự minh bạch trong quản lý". Điều này sẽ giúp các bên liên quan dễ dàng theo dõi và đánh giá tiến độ của dự án.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan các quan điểm cơ bản về mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng Để có cái nhìn tổng quát về mô hình tổ chức QLDA ĐTXD nhằm tiến hành nghiên cứu tổng quan về mô hình tổ chức quản lý dự án ĐTXD sử dụng vốn nhà nước, cần xem xét rộng hơn ở các nghiên cứu về mô hình, tổ chức và dự án ĐTXD. Các quan điểm về tổ chức Theo Từ điển Tiếng Việt, “tổ chức” là việc sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một số nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung; là tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung [35]. Nghĩa đầu tiên của từ này là chỉ hành động để thành lập một đơn vị, là quá trình sắp xếp nguồn lực con người và gắn liền với con người là các nguồn lực khác nhằm thực hiện thành công các hoạt động đã xác định.

Về bản chất, tổ chức là phân chia công việc, sắp xếp các nguồn lực và phối hợp các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu chung [13]. Theo nghĩa thứ hai, tổ chức chỉ một thực thể thống nhất gồm nhiều người cùng làm việc vì mục đích chung trong hình thái cơ cấu ổn định. Là một thực thể thống nhất, tổ chức có thể có nhiều dạng khác nhau như: tập đoàn, tổng công ty, công ty, ban quản lý dự án,. và được phân loại theo nhiều cách khác nhau.

Trên góc độ khoa học quản trị kinh doanh, nghiên cứu [4] đưa ra khái niệm tổ chức bộ máy quản trị và tổ chức quá trình quản trị. Tổ chức bộ máy quản trị (gọi tắt là tổ chức bộ máy) gồm các vấn đề về tổ chức cơ cấu quản trị, các chức năng quản trị, cán bộ quản trị cho các đơn vị cụ thể. Tổ chức quá trình quản trị (gọi tắt là tổ chức quá trình) bao gồm các quá trình quyết định, quá trình quản trị công việc và quá trình quản trị nhân sự [4]. Đây là hai hoạt động tổ chức cốt lõi của một đơn vị, điều này áp dụng cho cả các ban quản lý dự án ĐTXD, dù đây là một loại hình tổ chức đặc biệt.

Các quan điểm về mô hình trong bối cảnh các nghiên cứu về tổ chức Khái niệm “mô hình” ở nghĩa hẹp có nghĩa là khuôn mẫu, tiêu chuẩn và có thể còn được hiểu là thiết bị, cơ cấu tái hiện hay bắt chước cấu tạo và hoạt động của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hình hóa) vì mục đích khoa học và sản xuất. Ở 10 nghĩa rộng, mô hình được hiểu là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả), ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc các hiện tượng) [35]. Mô hình là khái niệm được nhiều ngành khoa học sử dụng, không chỉ trong khoa học tự nhiên mà ngay cả khoa học xã hội như triết học, kinh tế học, ngôn ngữ học và khoa học chính trị cũng sử dụng khái niệm này. Trong triết học, mô hình là sự biểu thị mối quan hệ giữa tri thức của con người về các khách thể và bản thân các khách thể đó.

Trong kinh tế học, mô hình được coi là hình thức mang tính quy ước của đối tượng nghiên cứu diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của một hệ thống thực thể. Trong khoa học chính trị, mô hình là sự biểu hiện của nhận thức, giải thích các vấn đề chính trị, các mô hình về quá trình ra quyết định chính trị cho đến các mô hình về hệ thống chính trị, mô hình quản lý nhà nước, mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị [32]. Theo lý thuyết tổ chức, mô hình tổ chức được coi là một nguyên mẫu đơn giản hoá của tổ chức. Theo đó, các chức năng của mô hình tổ chức được mô tả để hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động chính của tổ chức; làm cơ sở cải tiến cơ cấu và hoạt động của tổ chức; để thể hiện cấu trúc của một tổ chức đổi mới; để thử nghiệm một khái niệm mới hoặc nghiên cứu một khái niệm được sử dụng bởi một tổ chức cạnh tranh [42].

Trên cơ sở các quan điểm về mô hình nêu trên, có thể đưa ra nhận định khái quát rằng, mô hình tổ chức được hiểu là sự khái quát cao những đặc điểm phổ biến kết hợp với những tính đặc thù của đối tượng nghiên cứu. Mô hình tổ chức bao gồm các thành phần, bộ phận nằm trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường cả bên trong và bên ngoài của tổ chức đó. Tổng quan các nghiên cứu về mô hình Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành là một đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập để thực hiện chức năng chính là QLDA; do đó, họ là một loại hình của tổ chức QLDA. Để có góc nhìn tổng quát về mô hình cho loại hình tổ chức riêng này, cần xem xét rộng hơn ở các nghiên cứu về tổ chức QLDA nói chung, Ban QLDA nói riêng cả trong nước và nước ngoài.

Các nghiên cứu trong nước Trong nghiên cứu “Phân tích thực trạng các mô hình quản lý dự án hiện đang áp dụng phổ biến trong ngành xây dựng”, tác giả Đinh Tuấn Hải [9] phân tích thực trạng về điểm mạnh, điểm yếu và khả năng áp dụng vào thực tế của 4 mô hình QLDA 11 bao gồm 1) mô hình chủ đầu tư tự thực hiện dự án, 2) mô hình thuê tư vấn quản lý dự án, 3) mô hình trọn gói thiết kế-thi công, 4) mô hình Ban quản lý dự án. Dù nghiên cứu này chưa phân biệt rõ việc triển khai dự án và quản lý dự án, nó cũng đã chỉ ra rằng trong mô hình Ban QLDA này, Ban QLDA là một bộ phận bên cạnh các phòng tổ chức hành chính, phòng kế toán tài chính và phòng khác và được đề xuất áp dụng cho các chủ đầu tư có nhiều dự án giống nhau lặp lại trong vòng nhiều năm. Đặc điểm chính của mô hình Ban QLDA là các thành viên trong ban tách hoàn toàn khỏi phòng chức năng chuyên môn, chuyên thực hiện quản lý điều hành dự án theo yêu cầu được giao. Tương tự, khái niệm Ban QLDA cũng được mô tả là một tập thể cán bộ, nhân viên trực tiếp thực hiện các công việc thực hiện dự án [17].

Ban QLDA được thành lập trong thời gian tồn tại của dự án; sau khi dự án kết thúc, ban QLDA bị giải thể. Theo các nghiên cứu này, Ban QLDA có điểm chung là một bộ phận của tổ chức, được thành lập để quản lý một hoặc một số dự án; khi dự án kết thúc các ban này sẽ giải thể chứ không phải là một tổ chức độc lập được thành lập để QLDA. Hơn nữa, các nghiên cứu này cũng không tập trung vào phân tích đặc điểm tổ chức bộ máy hay tổ chức hoạt động của Ban QLDA. Trong đề tài “Ban quản lý dự án chuyên ngành góc nhìn từ thực tiễn quản lý công trình trọng điểm sử dụng vốn ngân sách nhà nước”, nghiên cứu [36] phân tích, làm rõ chức năng, mô hình tổ chức và hoạt động của các ban QLDA chuyên ngành, khu vực từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện để tăng hiệu quả trong hoạt động của các tổ chức này và đảm bảo sự thành công của dự án.

Theo đó, BQLDACN là đơn vị sự nghiệp công lập có tư cách pháp nhân đầy đủ, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định; thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện các dự án được giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người quyết định đầu tư về các hoạt động của minh; quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được người quyết định đầu tư giao. Nghiên cứu dựa trên cơ sở mô hình tổ chức và hoạt động của BQLDACN với hai chức năng khác nhau là chủ đầu tư và tư vấn QLDA đã đề xuất Bộ Xây dựng ban hành thông tư hướng dẫn quy định chi tiết mô hình tổ chức hoạt động của BQLDACN. Nghiên cứu chưa tập trung làm rõ mối quan hệ tổng thể giữa tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động trong tổ chức QLDA ĐTXD sử dụng vốn nhà nước, nhưng giá trị khoa học ở những góc độ khác nhau cả về tổ chức bộ máy và 12 tổ chức hoạt động cũng như thực thể BQLDACN giúp NCS tiếp cận và phát triển đề tài nghiên cứu. Các nghiên cứu ngoài nước Tác giả Dusan Bobera nghiên cứu “Tổ chức quản lý dự án” [57] mô tả đặc điểm, ưu điểm và nhược điểm của ba mô hình tổ chức QLDA là chức năng, dự án và ma trận, cũng như cố gắng xác định các trường hợp trong đó một số mô hình có thể được áp dụng.

Nghiên cứu phân tích các yếu tố chuyên môn hóa theo sản phẩm, vị trí địa lý, quy trình sản xuất, đối tượng khách hàng,… để lựa chọn mô hình tổ chức. Tuy nhiên, nghiên cứu không phân tích cơ cấu bộ máy hay cơ cấu hoạt động QLDA cũng không đề cập đến loại hình dự án mà các tổ chức này quản lý. Trong nghiên cứu “Năng lực quản lý dự án trong tổ chức quản lý dự án”, tác giả Roland Gareis và cộng sự [93] phân tích năng lực QLDA trong các tổ chức được thành lập để QLDA. Tác giả đã phân tích năng lực của loại tổ chức này bao gồm tổng hợp năng lực cá nhân, năng lực nhóm dự án và năng lực toàn bộ tổ chức.

Các năng lực QLDA của các cá nhân, người QLDA hoặc thành viên nhóm dự án phải phù hợp với năng lực của cả tổ chức. Nghiên cứu cũng đề cập đến chiến lược, cơ cấu và văn hóa của tổ chức QLDA và xem xét QLDA là một quy trình nghiệp vụ trong các tổ chức này. Trong nghiên cứu “Chính phủ điện tử - Khung quản lý dự án đầu tư công” [100], tác giả Stanislaw Gasik mô tả văn phòng QLDA đầu tư công (PPMO), một loại tổ chức được thành lập ở nhiều quốc gia. Mục tiêu của PPMO là chịu trách nhiệm về việc thực hiện và quản lý các dự án đầu tư công; thực hiện các dịch vụ QLDA riêng biệt hoặc là cung cấp nhân sự QLDA cho các cơ quan của Chính phủ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao mô hình quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Việt Nam" tập trung vào việc cải thiện các phương pháp quản lý dự án đầu tư xây dựng, nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng công trình. Tác giả phân tích những thách thức hiện tại trong quản lý dự án và đề xuất các giải pháp cụ thể để tối ưu hóa quy trình, từ khâu lập kế hoạch đến thực hiện và giám sát. Những lợi ích mà bài viết mang lại cho độc giả bao gồm cái nhìn sâu sắc về các phương pháp quản lý hiện đại, cũng như cách thức áp dụng chúng vào thực tiễn tại Việt Nam.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo bài viết Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình quản lý dự án tại một địa phương cụ thể. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại ban quản lý dự án của trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Hậu Giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dự án trong lĩnh vực nước sạch và vệ sinh môi trường. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh các yếu tố ảnh hưởng đến thành quả quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý dự án, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.