CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MÔ HÌNH TỔ CHỨC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC 1. Tổng quan các quan điểm cơ bản về mô hình tổ chức quản lý dự án đầu tư xây dựng Để có cái nhìn tổng quát về mô hình tổ chức QLDA ĐTXD nhằm tiến hành nghiên cứu tổng quan về mô hình tổ chức quản lý dự án ĐTXD sử dụng vốn nhà nước, cần xem xét rộng hơn ở các nghiên cứu về mô hình, tổ chức và dự án ĐTXD. Các quan điểm về tổ chức Theo Từ điển Tiếng Việt, “tổ chức” là việc sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một số nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung; là tập hợp người được tổ chức theo cơ cấu nhất định để hoạt động vì lợi ích chung [35]. Nghĩa đầu tiên của từ này là chỉ hành động để thành lập một đơn vị, là quá trình sắp xếp nguồn lực con người và gắn liền với con người là các nguồn lực khác nhằm thực hiện thành công các hoạt động đã xác định.
Về bản chất, tổ chức là phân chia công việc, sắp xếp các nguồn lực và phối hợp các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu chung [13]. Theo nghĩa thứ hai, tổ chức chỉ một thực thể thống nhất gồm nhiều người cùng làm việc vì mục đích chung trong hình thái cơ cấu ổn định. Là một thực thể thống nhất, tổ chức có thể có nhiều dạng khác nhau như: tập đoàn, tổng công ty, công ty, ban quản lý dự án,. và được phân loại theo nhiều cách khác nhau.
Trên góc độ khoa học quản trị kinh doanh, nghiên cứu [4] đưa ra khái niệm tổ chức bộ máy quản trị và tổ chức quá trình quản trị. Tổ chức bộ máy quản trị (gọi tắt là tổ chức bộ máy) gồm các vấn đề về tổ chức cơ cấu quản trị, các chức năng quản trị, cán bộ quản trị cho các đơn vị cụ thể. Tổ chức quá trình quản trị (gọi tắt là tổ chức quá trình) bao gồm các quá trình quyết định, quá trình quản trị công việc và quá trình quản trị nhân sự [4]. Đây là hai hoạt động tổ chức cốt lõi của một đơn vị, điều này áp dụng cho cả các ban quản lý dự án ĐTXD, dù đây là một loại hình tổ chức đặc biệt.
Các quan điểm về mô hình trong bối cảnh các nghiên cứu về tổ chức Khái niệm “mô hình” ở nghĩa hẹp có nghĩa là khuôn mẫu, tiêu chuẩn và có thể còn được hiểu là thiết bị, cơ cấu tái hiện hay bắt chước cấu tạo và hoạt động của cơ cấu khác (của nguyên mẫu hay cái được mô hình hóa) vì mục đích khoa học và sản xuất. Ở 10 nghĩa rộng, mô hình được hiểu là hình ảnh (hình tượng, sơ đồ, sự mô tả), ước lệ của một khách thể (hay một hệ thống các khách thể, các quá trình hoặc các hiện tượng) [35]. Mô hình là khái niệm được nhiều ngành khoa học sử dụng, không chỉ trong khoa học tự nhiên mà ngay cả khoa học xã hội như triết học, kinh tế học, ngôn ngữ học và khoa học chính trị cũng sử dụng khái niệm này. Trong triết học, mô hình là sự biểu thị mối quan hệ giữa tri thức của con người về các khách thể và bản thân các khách thể đó.
Trong kinh tế học, mô hình được coi là hình thức mang tính quy ước của đối tượng nghiên cứu diễn tả các mối quan hệ đặc trưng giữa các yếu tố của một hệ thống thực thể. Trong khoa học chính trị, mô hình là sự biểu hiện của nhận thức, giải thích các vấn đề chính trị, các mô hình về quá trình ra quyết định chính trị cho đến các mô hình về hệ thống chính trị, mô hình quản lý nhà nước, mô hình tổ chức và thực hiện quyền lực chính trị [32]. Theo lý thuyết tổ chức, mô hình tổ chức được coi là một nguyên mẫu đơn giản hoá của tổ chức. Theo đó, các chức năng của mô hình tổ chức được mô tả để hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động chính của tổ chức; làm cơ sở cải tiến cơ cấu và hoạt động của tổ chức; để thể hiện cấu trúc của một tổ chức đổi mới; để thử nghiệm một khái niệm mới hoặc nghiên cứu một khái niệm được sử dụng bởi một tổ chức cạnh tranh [42].
Trên cơ sở các quan điểm về mô hình nêu trên, có thể đưa ra nhận định khái quát rằng, mô hình tổ chức được hiểu là sự khái quát cao những đặc điểm phổ biến kết hợp với những tính đặc thù của đối tượng nghiên cứu. Mô hình tổ chức bao gồm các thành phần, bộ phận nằm trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường cả bên trong và bên ngoài của tổ chức đó. Tổng quan các nghiên cứu về mô hình Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành là một đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập để thực hiện chức năng chính là QLDA; do đó, họ là một loại hình của tổ chức QLDA. Để có góc nhìn tổng quát về mô hình cho loại hình tổ chức riêng này, cần xem xét rộng hơn ở các nghiên cứu về tổ chức QLDA nói chung, Ban QLDA nói riêng cả trong nước và nước ngoài.
Các nghiên cứu trong nước Trong nghiên cứu “Phân tích thực trạng các mô hình quản lý dự án hiện đang áp dụng phổ biến trong ngành xây dựng”, tác giả Đinh Tuấn Hải [9] phân tích thực trạng về điểm mạnh, điểm yếu và khả năng áp dụng vào thực tế của 4 mô hình QLDA 11 bao gồm 1) mô hình chủ đầu tư tự thực hiện dự án, 2) mô hình thuê tư vấn quản lý dự án, 3) mô hình trọn gói thiết kế-thi công, 4) mô hình Ban quản lý dự án. Dù nghiên cứu này chưa phân biệt rõ việc triển khai dự án và quản lý dự án, nó cũng đã chỉ ra rằng trong mô hình Ban QLDA này, Ban QLDA là một bộ phận bên cạnh các phòng tổ chức hành chính, phòng kế toán tài chính và phòng khác và được đề xuất áp dụng cho các chủ đầu tư có nhiều dự án giống nhau lặp lại trong vòng nhiều năm. Đặc điểm chính của mô hình Ban QLDA là các thành viên trong ban tách hoàn toàn khỏi phòng chức năng chuyên môn, chuyên thực hiện quản lý điều hành dự án theo yêu cầu được giao. Tương tự, khái niệm Ban QLDA cũng được mô tả là một tập thể cán bộ, nhân viên trực tiếp thực hiện các công việc thực hiện dự án [17].
Ban QLDA được thành lập trong thời gian tồn tại của dự án; sau khi dự án kết thúc, ban QLDA bị giải thể. Theo các nghiên cứu này, Ban QLDA có điểm chung là một bộ phận của tổ chức, được thành lập để quản lý một hoặc một số dự án; khi dự án kết thúc các ban này sẽ giải thể chứ không phải là một tổ chức độc lập được thành lập để QLDA. Hơn nữa, các nghiên cứu này cũng không tập trung vào phân tích đặc điểm tổ chức bộ máy hay tổ chức hoạt động của Ban QLDA. Trong đề tài “Ban quản lý dự án chuyên ngành góc nhìn từ thực tiễn quản lý công trình trọng điểm sử dụng vốn ngân sách nhà nước”, nghiên cứu [36] phân tích, làm rõ chức năng, mô hình tổ chức và hoạt động của các ban QLDA chuyên ngành, khu vực từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện để tăng hiệu quả trong hoạt động của các tổ chức này và đảm bảo sự thành công của dự án.
Theo đó, BQLDACN là đơn vị sự nghiệp công lập có tư cách pháp nhân đầy đủ, được sử dụng con dấu riêng, được mở tài khoản tại kho bạc nhà nước và ngân hàng thương mại theo quy định; thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chủ đầu tư và trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện các dự án được giao; chịu trách nhiệm trước pháp luật và người quyết định đầu tư về các hoạt động của minh; quản lý vận hành, khai thác sử dụng công trình hoàn thành khi được người quyết định đầu tư giao. Nghiên cứu dựa trên cơ sở mô hình tổ chức và hoạt động của BQLDACN với hai chức năng khác nhau là chủ đầu tư và tư vấn QLDA đã đề xuất Bộ Xây dựng ban hành thông tư hướng dẫn quy định chi tiết mô hình tổ chức hoạt động của BQLDACN. Nghiên cứu chưa tập trung làm rõ mối quan hệ tổng thể giữa tổ chức bộ máy và tổ chức hoạt động trong tổ chức QLDA ĐTXD sử dụng vốn nhà nước, nhưng giá trị khoa học ở những góc độ khác nhau cả về tổ chức bộ máy và 12 tổ chức hoạt động cũng như thực thể BQLDACN giúp NCS tiếp cận và phát triển đề tài nghiên cứu. Các nghiên cứu ngoài nước Tác giả Dusan Bobera nghiên cứu “Tổ chức quản lý dự án” [57] mô tả đặc điểm, ưu điểm và nhược điểm của ba mô hình tổ chức QLDA là chức năng, dự án và ma trận, cũng như cố gắng xác định các trường hợp trong đó một số mô hình có thể được áp dụng.
Nghiên cứu phân tích các yếu tố chuyên môn hóa theo sản phẩm, vị trí địa lý, quy trình sản xuất, đối tượng khách hàng,… để lựa chọn mô hình tổ chức. Tuy nhiên, nghiên cứu không phân tích cơ cấu bộ máy hay cơ cấu hoạt động QLDA cũng không đề cập đến loại hình dự án mà các tổ chức này quản lý. Trong nghiên cứu “Năng lực quản lý dự án trong tổ chức quản lý dự án”, tác giả Roland Gareis và cộng sự [93] phân tích năng lực QLDA trong các tổ chức được thành lập để QLDA. Tác giả đã phân tích năng lực của loại tổ chức này bao gồm tổng hợp năng lực cá nhân, năng lực nhóm dự án và năng lực toàn bộ tổ chức.
Các năng lực QLDA của các cá nhân, người QLDA hoặc thành viên nhóm dự án phải phù hợp với năng lực của cả tổ chức. Nghiên cứu cũng đề cập đến chiến lược, cơ cấu và văn hóa của tổ chức QLDA và xem xét QLDA là một quy trình nghiệp vụ trong các tổ chức này. Trong nghiên cứu “Chính phủ điện tử - Khung quản lý dự án đầu tư công” [100], tác giả Stanislaw Gasik mô tả văn phòng QLDA đầu tư công (PPMO), một loại tổ chức được thành lập ở nhiều quốc gia. Mục tiêu của PPMO là chịu trách nhiệm về việc thực hiện và quản lý các dự án đầu tư công; thực hiện các dịch vụ QLDA riêng biệt hoặc là cung cấp nhân sự QLDA cho các cơ quan của Chính phủ.