CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP DẠY TỪ VỰNG THEO “ĐIỂM - TUYẾN -~ DIỆN” Như chúng ta đã biết, hiện nay, thiếu hụt từ vựng là khó khan lớn nhất mà học sinh dang mấc phải. Trong đợt thực tập vừa rồi, những bai làm trên lớp của học sinh đã thể hiện phẩn nào nhược điểm này. Bài viết của các em hẩu như déu cố chữ viết sai, viết nhẩm, chẳng hạn như cu thể nhất là “EHR” viết thành “4$26" , “Hw” viếtthành “Awe” : “$B” viếtthành “HH @"”. hơn nữa những sai sót nầy không chi có ở một lớp cá biệt, mà ở tất cd các khối lớp.
Học sinh thường hay viết sai hodc nhằmchử, điểu này nói lên một điểu rằng, các em học tử vựng chưa được kỹ, ghi nhớ từ chưa được sâu sắc, chẳng han chữ “#Ÿ” trong từ “PH” , các em thường hay viết thêm bộ thủ vào. Như vậy, muốn khắc phục nhược điểm này, trước tiền chứng ta phải xuất phải tử việc dạy tử vựng, từ ba khía cạnh “Điểm -Tuyến - Diện”, tìm hướng day tử vựng sao cho hiệu quả nhất. Thế nào là phương pháp dạy học theo “Điểm -Tuyến - Diện *? 2 € tụt tri 0tr2 MỘT SỐ PHUƠNG PHAP 0AY HOC MAM TRAU DỒI TỪ VỰNG CAO HOC SINH —————>>-—-—=——=—————=——— Nội dung cửa việc dạy từ vựng theo “Điểm -Tuyến - Diện” (a)N4m được cấu hình của chữ (b)Kết cấu của cht hợp thé Hình (c)Phân biệt chử có cấu trúc giống nhau (đ)Đồng hình khác âm ( chử da ẩm đa nghĩa) (e)Chữ thưởng hay viết sai ( ví dụ: “K "viết thành ẩ ) Am { (a)Nắm được cách đọc (chích xác) (b)Đổng âm khác hình ( chữ đổng ẩm thưởng gấp) Điểm (a)Chữ / từ đổng nghĩa (b)Chứ / từ gắn nghĩa (c)Chữ có khả nâng cấu từ mạnh (Ví dụ chữ "#~ ‘Rx RA) Nghĩa (d)Chữ có nhiều nghĩa(Có những chữ bản thần mang rất nhiều nghĩa, điều này rất dễ khiến học sinh lẫn lộn, ví dụ : chữ “+”, sau khi giản hóa thành chữ giản thé, bản thân nó mang khá nhiều nghĩa). ) gần nghĩa, từ trái nghĩa (aTừ Tuyến ) song âm tiết được tạo thành tử các chứ (bTừ (c) Sự kết hợp giữa các từ trong câu Sử dụng từ trong cầu sao cho thích hợp (d) Mối quan hệ giữa chữ / từ trong khi đọc (nâng cao khả nắng đọc) Diện Mối quan hệ giữa chữ / từ trong khi viết (nắng cao khả năng viết) Bảng 1 : Nội dung của việc day từ theo "Điểm - Tuyến - Diện” € Hừ trừ 0tr) MOT SỐ PHUONG PHAP DAY HOC NHẢM TRAU DỐI TU VUNG CHO HOC SINH Bảng trên đã thé biện rõ nội dung của việc day từ vựng theo *Điểm - Tuyến - Diện”.
Dạy tử vựng theo “Điểm” có nghĩa là dạy tập trung chủ yếu vào bản thần chữ / tử; day tử vựng theo “Tuyến” chủ yếu chứ trọng về kết cấu giữa các chữ / từ trong cầu; đạy từ vựng theo “Diện” là quan tầm đến tác dụng cửa chữ / từ đối với cả bài văn. Trong đó, dạy từ vựng theo “Điểm” là khâu cơ bản nhất, cần phải đặc biệt quan tầm. Nếu như khổng thực hiện tốt khâu này, thì ahất định sẽ ảnh hưởng đến hai khẩu "Tuyến" và “Diện” còn lại, vì day từ vựng theo “Điểm” là nẻn tảng của cd quá trình day tử vựng, nó vồ cùng quan trọng, nếu nền tang này khổng vẫn chấc thì tất yếu sẽ ảnh hưởng xấu đến hai khẩu "Tuyến" và “Diện”. Dạy từ vựng theo “Điểm”: Dạy từ vựng theo “Điểm” là khâu cơ bản trong ba khâu, nó được thể hiện qua những thang bậc sau đây: 1.
Học sinh có thể phân biệt bộ hình của chứ, biết đọc nhưng phát dm không chuẩn. Học sinh có thể phần biệt bộ hình cửa chữ, biết đọc, phát âm chuẩn, nhưng vé mặt nghĩa thì hiểu còn mơ hd, mập mở. Học sinh có thể phân biệt bộ hình của chữ, biết đọc, phát âm chuẩn, hiểu nghĩa, nhưng không biết vận dung. Học sinh có thể phân biệt bộ hình cửa chi, biết đọc, phát âm chuẩn, hiểu nghĩa, đổng thời có thể vận dung một cách chính xác và linh hoạt.
(Thang bậc này củng chính là mục đích day học ma chúng ta cần đạt được) Để học sinh đạt đến thang bậc 4, trong khi day học, đối với những chữ 23 € nữ rưi 0tr) MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HOC NHÂM TRAU ĐỒI TỪ VỰNG CHO HOC Sam đổng âm hoặc có cách viết gần giống nhau, chúng ta cẩn đặc biệt chú ý hon, chẳng hạn như : "‡}” và “FF” - “FE” và "4ˆ - "*#” xà “4$”. Học sinh cẩn chú ý những khác biệt nhỏ về cách viết cũng như nghĩa của những chi / tử nay, có như thế, các em mới có thể vận dụng chứ Hán một cách chính xác, giảm cũng như tránh được trường hợp viết không đúng. Hoc sinh thường hay lẫn lớn ở những chứ đổng âm. Lan lộn giữa âm và hình chính là nguyên nhần chủ yếu cửa việc viết sai chứ.
Sở dĩ học sinh mắc những sai lầm tương tự, thứ nhất là vicde em ít có cơ hội vgn đụng chứ Han, thứ hai là các em không hiểu kỹ về nghĩa của chứ. Cho nên khi vận dụng, thường hay có sự nhầm lẫn giữa những chứ đổng ầm khác nghĩa, dẫn đến việc dùng sai. Điểu này ít nhiều có liên quan đến mồi trưởng học tập ở nước ta. Việc giảng dạy tiếng Hoa ở nước ta thông qua tiếng Việt là chính, agay tại trường học, cơ hội sử dung tiếng Hoa cũng tương đối ít.
Cho nền, học sinh khong nấm kỹ được chứ / từ, din đến nhẩm Mn cũng là việc khó tránh khỏi mà thổi. Trong khi day từ vựng, gặp phải những chữ đổng 4m, giáo viên nền néu ra những chữ đổng âm thích hợp, để học sinh so sánh, phần biệt nghĩa của những chử đổng âm ấy, giúp các em tăng khả năng phần biệt những chữ ấy. Trong đợt kiến tập, thực tập, qua tập vở ghi chép và bài kiểm tra cửa học sinh, chứng ta đã phát hiện một điểu rằng, khd nang phần biệt cũng như viết chữ Hán của các em tương đối kém, ví dụ: 1. Viết “BM” thành “BR” 2.
Viết “#*@#ƒf” thinh “Ate 3. Viết “sed” thanh “JE” 4. Viết “AH” thành “Z#” 6. Viết ““##øZ#” thành “KHKH” Kz4? rất itty big MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DAY HỌC NHẰM TRAU DỐI TỬ VỰNG CHO HỌC S9H §.
Viết “RAB” thành “MA I0. Viết “## ” thành “@#” ” thành II. Viết “##” thành “##ˆ Những sai lầm vừa nêu trên, hdu hết là do lẫn lộn giữa chữ đổng ẩm hoác chứ có cách viết gần giống nhau. RG rang, học sinh không nấm kỹ không phần biết rỏ về chử déng 4m cứng như chi có cách viết gần giống nhau.
Vì thé, trong khi dạy học, chúng ta phải làm mọi cách sửa những lỗi sai ma học sinh thường mắc phải. LẺ di nhiền, việc sửa sai này không thể trong một thời gian ngấn được, tuy nhiên, chỉ cẩn chúng ta có quyết tầm, thường xuyên quan (4m đến, thực hiện tng bước một cách có hệ thống với phương pháp day linh hoạt thì hiện tượng viết sai chi cửa các em có thể từng bước cải thiện hơn. Ngoài ra, chúng ta cũng cẩn d4c biệt quan tầm đến những chữ đa âm đa nghĩa, chẳng bạn như chứ “ÿÿ” (táo) trong từ “BA”, “‡Ÿ” (dido) trong từ “ÿÿ# 7. Nếu như chứ xuất hiện trong bài có tẩn suất sử dụng thấp, thì chúng ta phải cẩn phải nêu ra chữ có tẩn suất cao (thường đùng); ngược lại, nếu như chử đa dm đa nghĩa xuất biện trong bài là chi có tẩn số sử dung cao, thì cách đọc và nghĩa khác chỉ cẩn nhấc cho học sinh biết sơ qua mà thổi.
Dạy từ vựng theo “Tuyến”: Học sinh khổng nấm kỹ được chữ / từ, tức là “Điểm "chưa được vững chắc, chính ví vấy thường hay dẫn đến phát sinh vấn để sử dụng từ ngứ kết nối trong câu chưa được hợp lý. Cho nền, trong việc dạy học, chứng ta khổng thể xem nhẹ được việc giúp các em khấc phục vé mắt này. «aan ree eta hi MỘT SỐ PHƯƠNG PHAP DAY HỌC NHẦ TRAU DỐI TỪ YUNG CRO HOC SINM ——-———————————————— ——=——— Trong kbi dạy từ vựng, chứng ta nên xét đến giửa các điểm với nhau, có nghĩa là xét đến mối quan hệ cũag như kết cấu cửa các từ trong câu, để có thể kết nối "tuyến” một cách chính xác. Sau đây là một số ví dy được dẫn ra qua hai đợt kiến tập và thực tập: |, 4€,#‡3#?⁄L+.
EAT ABRRNAL EH - (Nền sửa lại là: EH TUAMKRAMNERB) 3. #£#Tf*X# ' &fI#ê+6 › (Nềa sửa lại là: AHHZAA: &10##£@+ 4) Qua những ví dụ nều trên, chúng ta có thé thấy rõ học sinh đã kết nối “tuyến” giửa các tử trong cầu khóng tốt lấm. Do đó, khi dạy học, giáo viền nén đặc biệt quan tầm đến mát này, cẩn phải chú ý hơn nữa việc dạy tử vựng theo “tuyến”. Dạy từ vựng theo “Diện”: Dạy tử vựng theo “Diện”, có nghĩa là thấc chặt mối quan hệ giữa từ vựng với việc doc hiểu và viết văn.
Sau khi học sinh đã nắm được mét số từ vựng tiếng Hoa nhất định, khả năng đọc sé có thể tang đẩn lên, từng bước đi sầu hơn đối với việc tìm hiểu cũng như phân tích chi để cửa một bài văn. Bên cạnh đó, thồng qua việc day từ vựng theo “Diện”, khả nang viết văn của học sinh cing sé tửng bước được nềng cao. Vì tử ngử vốn là đơn vị cơ bản nhất của 36 £ tạ rat (IrưÌu) MOT SỐ PHƯƠNG PHAP Dar HOC NHẰM TRAU ĐỐt TỪ VỰNG CHO HỌC SINH một bài văn, học sinh trền cơ sở hiểu nd nấm kỹ được một lượng lớn từ vựng, sẻ áp dung vào việc viết văn, không những có thể nang cao trình độ biểu đạt khi viết vấn, đồng thời ahất định làm cho bai vấn cửa các em thém hay, thềm sinh động. Dạy từ vựng theo “Diện” chính là xuất phát theo hướng ấy, nó kết chat mốt liền hệ giửa những từ ngữ cơ bản nhất với việc đọc hiểu và viết văn đốt với toàn bài, tử cái nhỏ đến cái lớn, từ “Điểm" đến “Diện”, tiến hành hướng đẩn chỉ day học sinh m6t cách toàn điện và có hệ thống, từ đó làm ting khả náng đọc hiểu và viết văn bằng tiếng Hoa của học sinh.
Hiện nay, việc day tiếng Hoa d nước ta, vin còn tổn tại một số hiện tương day học tách ly tử vựng với bài văn, tức là rút những từ ngữ trong bài ra tiến hành day cá biệt, và cuối cùng lại không quay trở !ại liền hệ với toằa bài.