Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN CỦA CÔNG CHỨC 1. Khái niệm, vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin 1. Khái niệm - Khái niệm công nghệ thông tin Tại Điều 4, Luật CNTT số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội cũng đã định nghĩa: “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập và xử lí, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [30]. - Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin Theo Điều 4 của Luật CNTT số 67/2006/QH11 năm 2006 ngày 29 tháng 6 năm 2006 có đưa ra khái niệm “Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các lĩnh vực thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này” [30].
Vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin - Vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đời sống CNTT giúp cải thiện chất lượng cuộc sống, thúc đẩy phát triển kinh tế, cung cấp các dịch vụ, tăng cường giao lưu, trao đổi, chia sẻ, thúc đẩy giao lưu văn hoá, hợp tác quốc tế. Trong giáo dục mang đến những đổi mới trong giáo dục, giúp học sinh, sinh viên học tập hiệu quả hơn, tiếp cận nguồn kiến thức đa dạng, phong phú các nguồn tri thức trên thế giới. Trong công việc giúp phát triển tư duy sáng tạo, tăng năng suất làm việc, tăng cường kết nối, trao đổi kinh nghiệm. Trong giải trí mang lại nhiều sự lựa chọn giải trí khác nhau, giúp thư giãn, giải toả căng thẳng.
Trong y khoa giúp hoạt động quản lý hoặc thủ tục khám chữa bệnh trở nên đơn giản hơn rất nhiều, các thiết bị y khoa cũng được lập trình bằng CNTT giúp ích cho 9 việc theo dõi tình trạng sức khoẻ của người bệnh và đưa ra phương pháp điều trị tối ưu nhất… - Vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ quan hành chính nhà nước Ứng dụng CNTT góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở dữ liệu cung cấp thông tin phục vụ cơ quan nhà nước. Giúp phát triển nguồn nhân lực về CNTT của cơ quan nhà nước, bên cạnh đó, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức được đào tạo về kỹ năng ứng dụng CNTT trong xử lý công việc chuyên môn. Nâng cao chất lượng và hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước theo hướng đơn giản, hiệu quả. Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức về vai trò quan trọng của CNTT, nâng cao hiệu suất làm việc, xử lý, giải quyết nhanh và đáp ứng được các yêu cầu của cá nhân tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Trở thành phương tiện kiểm tra, theo dõi công việc một cách có hệ thống. Cung cấp những thông tin, căn cứ bằng chứng phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước. Kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của công chức 1.1 Khái niệm - Khái niệm Kỹ năng: Được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau: Theo Học viện quản Pacen định nghĩa: “Kỹ năng (skill) là những khả năng, kiến thức và năng lực mà một người sử dụng để thực hiện một công việc, giải quyết một vấn đề nào đó. Kỹ năng có thể bao gồm cả khả năng vận dụng kiến thức và kinh nghiệm vào thực tế, cũng như khả năng thích nghi và học hỏi trong các tình huống mới”.
Theo tác giả Vũ Dũng định nghĩa “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”. 10 Tác giả Thái Duy Tuyên định nghĩa “Kỹ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động. Mỗi kỹ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành mà nếu thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt được mục đích đặt ra cho hoạt động. Điều đáng chú ý là việc thực hiện một kỹ năng luôn luôn được kiểm tra bằng ý thức, nghĩa là khi thực hiện bất kỳ một kỹ năng nào đều nhằm vào một mục đích nhất định”.
Nhưng đối với Nhà tâm lý học L.Leviton người Liên Xô cho rằng “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định”. Tóm lại, qua các định nghĩa trên của các tác giả đều cho rằng “Kỹ năng là việc áp dụng những tri thức mà ta đã tích luỹ được để hoàn thành mục tiêu đề ra”. - Khái niệm kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin Kỹ năng sử dụng thiết bị CNTT và phần mềm CNTT để tương tác, truyền đưa, lưu trữ, xử lý các văn bản, sử dụng các bảng tính, trình chiếu, quản trị cơ sở dữ liệu, sử dụng internet, sử dụng nội dung kiến thức, văn bản pháp luật trên hệ thống CNTT, không gian mạng… Kỹ năng tương tác, xử lý thông tin trên Website, Từ đó vận dụng phần mềm và thiết bị CNTT trong công tác soạn thảo văn bản, sử dụng các phần mềm/ ứng dụng, quản lý và điều hành văn bản trên không gian mạng, tổ chức cuộc họp trực tuyến, sử dụng chữ ký số. - Khái niệm kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của công chức “Kỹ năng ƯDCNTT của cán bộ, công chức là khả năng người cán bộ công chức vận dụng những kiến thức CNTT đã được học và áp dụng vào thực tế hoặc có thể nói cách khác là khả năng sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin”[6].
Nội dung kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin Thực tế cho thấy, đối với công chức phường cần có một số kỹ năng ứng dụng CNTT như: 11 Về kỹ năng sử dụng các phần mềm để soạn thảo văn bản: Kỹ năng soạn thảo văn bản nhanh, chính xác; sử dụng thành thạo các tổ hợp phím (phím tắt) để rút ngắn thười gian xử lý các văn bản; sửa lỗi chính tả bằng phần mềm; biết sử dụng các phầm mềm hỗ trợ và khai thác tối đa các tính năng trong Microsoft Office… Về kỹ năng sử dụng các phần mềm/ ứng dụng: Biết thiết kế, trình chiếu hình ảnh video clip và có lồng tiếng để thay báo cáo chữ bằng văn bản giấy hoặc tuyên truyền nhờ sự hỗ trợ của Powerpoint, Capcut, Canva… Về kỹ năng quản lý và điều hành văn bản trên không gian mạng: Biết sử dụng trang Chính quyền điện tử để soạn thảo, ban hành, trả lời tiếp nhận văn bản, lưu trữ và cho số văn bản.; thao tác thành thạo trên các trang dịch vụ công trực tuyến, dịch vụ công quốc gia để hướng dẫn người dân thao tác đăng ký, nộp hồ sơ trực tuyến và bản thân cán bộ thành thạo để nhập thông tin, lưu trữ các thủ tục, hồ sơ đăng ký khai sinh, hộ tịch, tư pháp, xác nhận. trên trang một cửa, dịch vụ công liên thông. Về kỹ năng tổ chức cuộc họp trực tuyến: Biết tổ chức các cuộc họp trực tuyến trên các phần mềm ứng dụng như teams, zoom, các mạng nội bộ. Về việc sử dụng chữ ký số: Biết và có thể thao tác ký nháy, ký số, đóng dấu của cơ quan đúng vị trí, đúng thể thức… 1.
Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số nâng cao kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin cho công chức Tại Điều 5 của Luật Công nghệ thông tin số 67/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 của Quốc hội chỉ rõ Chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin gồm 8 nội dung [30]: Ưu tiên ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; thúc đẩy công nghiệp công nghệ thông tin phát triển thành ngành kinh tế trọng điểm, đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu; Khuyến khích đầu tư cho lĩnh vực công nghệ thông tin; Ưu tiên dành một khoản ngân sách nhà nước để ứng dụng công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực thiết yếu, tạo lập nền công 12 nghiệp công nghệ thông tin và phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin; Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia; Có chính sách ưu đãi để tổ chức, cá nhân có hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đối với nông nghiệp; nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người có hoàn cảnh khó khăn; Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin; Tăng cường giao lưu và hợp tác quốc tế; khuyến khích hợp tác với tổ chức, cá nhân Việt Nam ở nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27 tháng 9 năm 2019 của Bộ Chính trị đã ban hành về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Là một trong những quan điểm chỉ đạo quan trọng của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết là: “Chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội” [4]. Trong các văn kiện của Đại hội XIII trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 Đảng nhấn mạnh: “Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”[22].
Trong ba nhiệm vụ trọng tâm nhằm thực hiện các đột phá chiến lược, chuyển đổi số quốc gia được xác định ở nhiệm vụ thứ hai, cụ thể là: “Phát triển mạnh mẽ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh”[22].