Tài liệu Kinh tế: Nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các

Nghiên cứu các giải pháp cải thiện khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.

Trường đại học

Học Viện Ngân Hàng

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2021

163
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Tầm quan trọng của Khả năng Tiếp cận Tín dụng

Khả năng tiếp cận tín dụng là một yếu tố quan trọng trong phát triển kinh tế của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Đây là khả năng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong việc tiếp cận các khoản vay từ ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác. Nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng giúp các doanh nghiệp mở rộng quy mô hoạt động, đầu tư vào công nghệ mới và phát triển nguồn nhân lực. Theo nhiều nghiên cứu, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng là chìa khóa để giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua những khó khăn tài chính và phát triển bền vững trong bối cảnh kinh tế hiện đại.

1.1. Định nghĩa Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những đơn vị kinh tế có quy mô vừa phải, thường có từ 10-300 nhân viên và doanh thu hạn chế. Các doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế. Chúng thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng ngân hàng do thiếu tài sản đảm bảo và hồ sơ tài chính không hoàn chỉnh.

1.2. Vai trò của Tài chính Bao trùm

Tài chính bao trùm là chiến lược nhằm đưa các doanh nghiệp nhỏ và vừa vào hệ thống tài chính chính thức. Thông qua nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng, các SME có thể tiếp cận vốn với lãi suất hợp lý, cải thiện năng suất và tạo điều kiện phát triển lâu dài cho nền kinh tế.

II. Những Rào cản trong Tiếp cận Tín dụng Ngân hàng

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường phải đối mặt với nhiều rào cản tiếp cận tín dụng ngân hàng khiến họ khó khăn trong việc mở rộng kinh doanh. Khả năng tiếp cận tín dụng bị hạn chế do các yếu tố như thiếu tài sản đảm bảo, hồ sơ tài chính không đầy đủ, lịch sử tín dụng không rõ ràng và thiếu kinh nghiệm quản lý. Ngoài ra, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng còn bị ảnh hưởng bởi các yêu cầu thủ tục phức tạp của ngân hàng thương mại. Để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp cần hiểu rõ những rào cản này và có chiến lược khắc phục phù hợp.

2.1. Rào cản Tài chính và Tài sản Đảm bảo

Rào cản tài chính là nguyên nhân chính khiến khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa bị giảm. Các doanh nghiệp thiếu tài sản đảm bảo để vay vốn từ ngân hàng. Nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng yêu cầu các doanh nghiệp phải tích lũy tài sản có giá trị và xây dựng lịch sử tín dụng tốt.

2.2. Rào cản Thể chế và Thủ tục

Các quy trình tiếp cận tín dụng ngân hàng thường phức tạp và tốn thời gian, gây khó khăn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng, cần phải cải thiện môi trường kinh doanh, minh bạch hóa thủ tục và giảm chi phí giao dịch.

III. Giải pháp Nâng cao Khả năng Tiếp cận Tín dụng

Để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần phải thực hiện nhiều giải pháp toàn diện. Thứ nhất, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng đòi hỏi các doanh nghiệp phải cải thiện năng lực quản lý tài chính và xây dựng báo cáo tài chính minh bạch. Thứ hai, các ngân hàng thương mại cần đổi mới sản phẩm tín dụng, giảm yêu cầu tài sản đảm bảo và xây dựng mô hình đánh giá rủi ro dựa trên dòng tiền kinh doanh. Thứ ba, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng cần sự hỗ trợ từ nhà nước thông qua các chính sách ưu đãi, quỹ bảo lãnh và chương trình hỗ trợ đặc biệt. Những giải pháp này sẽ giúp khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa được cải thiện đáng kể.

3.1. Cải thiện Năng lực Doanh nghiệp Nhỏ và Vừa

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng bằng cách cải thiện năng suất lao động, xây dựng báo cáo tài chính chuyên nghiệp và nâng cao chất lượng sản phẩm. Khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng sẽ tăng lên khi doanh nghiệp có lịch sử tài chính minh bạch và kế hoạch kinh doanh rõ ràng.

3.2. Đổi mới Sản phẩm Tín dụng của Ngân hàng

Ngân hàng thương mại cần nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng bằng cách phát triển các sản phẩm tín dụng phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, như tín dụng không tài sản đảm bảo, tín dụng dài hạn với lãi suất ưu đãi. Đổi mới công nghệ số cũng giúp khả năng tiếp cận tín dụng được cải thiện.

3.3. Hỗ trợ Chính sách từ Nhà nước

Nhà nước cần nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng thông qua các chính sách ưu đãi, xây dựng quỹ bảo lãnh, giảm thuế và tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận tín dụng ngân hàng dễ dàng hơn.

IV. Kinh nghiệm và Bài học từ Các Quốc gia Khác

Các quốc gia phát triển đã áp dụng nhiều chiến lược thành công để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ở Thái Lan, khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng được cải thiện thông qua các quỹ tín dụng vi mô và ngân hàng hợp tác xã. Tại Việt Nam, các ngân hàng thương mại đã phát triển các sản phẩm tín dụng đặc biệt cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Những kinh nghiệm này chỉ ra rằng nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng cần có sự kết hợp giữa nỗ lực của doanh nghiệp, ngân hàng và chính phủ. Bài học kinh nghiệm cho Lào là cần phải xây dựng một hệ thống hỗ trợ toàn diện, bao gồm các quỹ bảo lãnh, chương trình đào tạo và cải thiện môi trường pháp lý để khả năng tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa được nâng cao hiệu quả.

4.1. Kinh nghiệm từ Thái Lan và Việt Nam

Thái Lan và Việt Nam đã triển khai các chương trình hỗ trợ tín dụng thành công để nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các quốc gia này đã thành lập quỹ bảo lãnh, ngân hàng vi mô và chương trình huấn luyện kỹ năng quản lý tài chính. Khả năng tiếp cận tín dụng được cải thiện rõ rệt nhờ sự phối hợp giữa các bên liên quan.

4.2. Bài học cho Lào

Lào có thể nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng bằng cách học hỏi từ kinh nghiệm của các nước láng giềng. Cần thiết lập các quỹ bảo lãnh, cải thiện hệ thống thông tin tín dụng, xây dựng chương trình đào tạo và tạo môi trường pháp lý thuận lợi. Nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và tăng trưởng kinh tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

18/12/2025
Nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại cộng hòa dân chủ nhân dân lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Tại Cộng hoà dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào, các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế, các doanh nghiệp này chiếm số lượng rất lớn và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm góp phần tăng thu nhập cho dân cư, ôn định xã hội, lấp đầy những khoảng trồng nhỏ hẹp trong các thị trường và đóng góp đáng kế vào thu nhập quốc dân. Do quy mô doanh nghiệp tương đối gọn nhẹ nên các DNNVV hoạt động khá linh hoạt trong hầu hết các lĩnh sản xuất và kinh doanh của nền kinh tế Lào. Trong những năm qua, các doanh nghiệp này đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên do những hạn chế về kinh nghiệm quản lý, vận hành doanh nghiệp, hạn chế về quy mô tài sản đảm bảo nên khả năng tiếp cận với tín dụng ngân hàng cũng gặp nhiều trở ngại.

Những DNNVV tại Lào khá linh hoạt và năng động trong kinh doanh, vì vậy, trong những năm qua đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên đề tồn tại, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất cần được hỗ trợ, nhất là nguồn vốn đề nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất kinh đoanh. Tuy vậy, do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm vận hành, về quy mô tài sản đảm bảo, do đó hiện nay các DNNVV gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, đặc biệt là các nguồn vốn trung và dài hạn. Tình trạng thiếu vốn sản xuất kinh doanh đang là rào cản lớn nhất cho sự phát triển của các DNNVVtại Lào. Thêm vào đó là những bất ôn của tình hình kinh tế thế giới, những khó khăn nội tại của kinh tế Lào cùng với lạm phát và lãi suất tăng cao đã ảnh hưởng lớn đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp nảy.

Hệ quả là rất nhiều DNNVV tại Lào gặp khó khăn, phải thu hẹp sản xuất, thậm chí là ngừng hoạt động hay phá sản. Điều đó làm cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng nhằm khôi phục hoạt động sản xuất bị tổn hại do tác động tiêu cực của nền kinh tế bất ồn. Chính vi vai trò quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như những khó khăn mà các doanh nghiệp này đang phải đối mặt, cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu để các DNNVV chủ động trong kinh doanh. Điều nay đặt ra bài toán phải làm thế nào để nâng cao tiếp cận tín dung cho các DNNVV.

Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn đề tai “Nang cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Cộng hòa Dân chủ Nhân tại Lào” làm luận án tiến sĩ. Tổng quan nghiên cứu 2. Tình hình nghiên cứu nước ngoài Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học công bố trong và ngoài nước có liên quan đến nội dung của luận án. Tác giả chọn lọc và phân loại các công trình mà luận án có so sánh, kế thừa và phát triển theo 2 nhóm: () Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết để làm căn cứ khoa học, tạo nền tảng lý thuyết cơ bản khi nghiên cứu về khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV, bao gồm lý thuyết phan bé tin dung, lý thuyết kinh tế học thé chế, lý thuyết mạng lưới quan hệ xã hội và lý thuyết kinh tế có điều tiết.

(đi) Nhóm các công trình nghiên cứu thực nghiệm gồm các luận án tiến sĩ, các công trình nghiên cứu khoa học, các bài bảo được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín mô tả kết quả nghiên cứu thực nghiệm về khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng của DNNVV ở một số nước có những nét tương đồng với Lảo. Nhóm các công trình nghiên cứu lý thuyết 2. Lý thuyết phân bổ tín dụng Lý thuyết phân bồ tín dung (credit rationing) duoc dé xuat béi Stiglitz va Weiss (1981) và được phát triển bởi các nhà nghiên cứu khác như Namara và cộng sự (2020). Theo quy luật cung câu tín dụng, bên cầu tín dụng (người đi vay - DNNVV) với mong muốn tối đa lợi ích kỳ vọng của mình từ việc vay tiền của bên cung tín dụng (người cho vay - NHTM), và để có quyền sử dung số tiền vay này, DNNVV phải trả cho NHTM một khoản chỉ phí (lãi vay) trên cơ sở thỏa thuận của hai bên.

Tuy nhiên, nghiên cứu của Stiglitz và Weiss (1981) cho thấy quy luật cung cầu tín dụng dựa vào lãi suất không thể giải thích khả năng tiếp cận tín đụng ngân hàng của DNNVV do quyết định cấp tín dụng không chỉ đơn thuần bị điều chỉnh bởi lãi suất trên thị trường, mà quyết định cấp tín dụng phụ thuộc vào cách mà NHTM lựa chọn, đánh giá DNNVV dựa trên thông tin của DNNVV mà NHTM thu thập được. Điều này có nghĩa không phải tất cả DNNVV đều được cấp tín dụng khi có nhu cầu, NHTM sẽ quyết định cấp tín dụng và cấp bao nhiêu dựa trên một tập hợp các thông tin mà NHTM có được về DNNVV. Nói cách khác, đòng chảy vốn tin dụng không chi tuân theo lý thuyết cung cầu, nó là một quá trình cân nhắc, trong đó DNNVV nộp hồ sơ vay vốn, sau đó NHTM xác định số tiền cho vay dựa trên cách đánh giá của NHTM đối với DNNVV. Theo Stiglitz va Weiss (1981).

thông tin bat cân xứng sẽ dẫn đến việc các NHTM hạn chế cấp tín dụng cho DNNVV do NHTM khó có thể phân biệt mức độ rủi ro và khả năng trả nợ giữa các DNNVV. Thông tin bất cân xứng xuất hiện trong quan hệ tín dụng khi NHTM có ít thông tin hơn của DNNVV về tình hình tải chính, mục đích và quá trình sử dụng vốn vay của DNNVV, dẫn đến NHTM ra quyết định cấp tín đụng không còn chính xác. Thông tin bất cân xứng làm nảy sinh hai van dé làm cho NHTM không sẵn lòng cấp tín dung cho DNNVV đó là sự chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức. Dé giảm thiểu rủi ro, NHTM đã thực hiện nghiệp vụ thu thập và xử lý thông tin về DNNVV và các dự án đầu tư/phương án sản xuất kinh doanh của DNNVV, việc sử dụng tải sản thế chấp là phương thức phổ biết nhất để giảm thiểu rủi ro cho NHTM.

Trong nhiều trường hợp, NHTM sẽ quyết định không cấp tín dụng, cấp tín dụng ít hơn nhu cầu của DNNVV hoặc cấp tín dụng nhưng với lãi suất cao dé bù đắp thiệt hại rủi ro mất vốn có thể xảy ra và các chỉ phí giao dịch phát sinh khi cấp tín dụng cho DNNVV. Lý thuyết kinh tế học thể chế Lý thuyết kinh tế học thé ché (institutional economics) duoc khéi xuéng trong nghiên cứu của Olson (1971) và sử dụng bởi các nghiên cứu gần đây như Adam (2020) và Meramveliotakis (2021). Sau đề xuất của Olson (1971), lý thuyết này tiếp tục được nghiên cứu bởi North và Thomas (1973) và được phát triển đầy đủ nhất trong nghiên cứu về các thể chế, sự thay đôi thể chế và hoạt động kinh tế của North (1990). Các nghiên cứu nảy xuất phát từ một thực tế là có những hành động mà chỉ có sự hợp tác giữa các bên mới mang lại lợi ích tối ưu, tuy nhiên mỗi bên tham gia hợp tác đều muốn tối đa hóa lợi ích của mình nên điều này có thể ảnh hưởng đến bên còn lại.

Việc hành động vì động cơ cá nhân hay chỉ phí giao dịch phát sinh làm cho các bên tham gia không muốn hợp tác, thậm chí cả khi hoạt động hợp tác đem lại lợi ích cho tất cả các bên tham gia. Thể chế được hiểu là một loạt các quy tắc, quy định (luật chơi) mà các bên tham gia trong hoạt động hợp tác đặt ra, các bên tham gia phải tuân thủ luật chơi này. Lý thuyết kinh tế học thể chế chỉ ra rằng thể chế giúp gia tăng cơ chế kiểm soát nhằm đảm bảo các bên thực hiện đúng cam kết của luật chơi và làm gia tăng chỉ phí nếu không thực hiện đúng cam kết trong quá trình hợp tác. North (1990) đã chỉ ra rằng hợp tác lần đầu (trò chơi không lặp lại) thì người chơi phải mất nhiều thời gian và công sức để đảm bảo tải sản của mình không bi mat đi và không bị lừa gạt.

Lý thuyết nảy hàm ý rằng quan hệ tín dụng giữa NHTM và DNNVV chỉ diễn ra khi các bên tuân thủ luật chơi chung (các quy định trong hợp đồng tín dụng), các DNNVV sẽ gặp khó khăn trong quá trình tiếp cận tín dụng ngân hàng nếu DNNVV chưa có thương hiệu, chưa tạo được lòng tin với NHTM hoặc thiếu các mối quan hệ cần thiết. Do đó, các NHTM thường ưu tiên cấp tín dụng cho các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp thường xuyên giao dịch với NHTM hơn là cho các doanh nghiệp nhỏ, DNNVV mới thành lập vay vốn do phải mắt nhiều thời gian và công sức để đưa ra “luật chơi” phủ hợp nhằm tránh rủi ro không thu hồi được vốn. Lý thuyết mạng lưới quan hệ xã hội Trong số các công trình nghiên cứu về lý thuyết mạng lưới quan hệ xã hội (social network) thì tiêu biểu là nghiên cứu của (Granovetter, 1973) trong bài báo khoa học “The strength of Weak Ties” (Stre manh cia cdc méi liên kết yếu). Nghiên cứu chỉ ra rằng mạng lưới quan hệ xã hội dùng dé chỉ các mối quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống của họ với tư cách là thành viên của xã hội.

Lý thuyết này gợi ý rằng với mạng lưới quan hệ xã hội rộng lớn có thể mang lại cho DNNVV các cơ hội tiếp cận với các nguồn lực, giảm các chỉ phí giao địch, do mối quan hệ xã hội không những gắn kết các thành viên với nhau mà còn cung cấp thông tin chính xác, cần thiết cho các bên tham gia mạng lưới. Lý thuyết kinh tế có điểu tiết Lý thuyết kinh tế có điều tiết (economie regulation) la ly thuyét dién hình về nền kinh tế có sự can thiệp của Nhà nước do Keynes (1936) khởi xướng trong nghiên cứu “The General Theory of Employment, Interest and Money” (Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ). Keynes (1936) đề cao vai trò của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế thị trường thông qua các công cụ và chính sách kinh tế vĩ mô, trong đó Keynes đặc biệt nhấn mạnh đến chính sách tài chính, tín dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ