Tổng quan luận án
Sản phẩm gốm mỹ nghệ Việt Nam là mặt hàng thủ công truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng liên tục từ 22,4 triệu USD năm 1995 lên 147,5 triệu USD năm 2004. Thị trường xuất khẩu đã mở rộng từ các nước xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ bao cấp sang các khu vực có yêu cầu kỹ thuật và thẩm mỹ cao như Liên minh Châu Âu (EU), Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Đông. Hoạt động này tạo việc làm cho hơn 100.000 lao động nông thôn và mang lại tỷ lệ thực thu ngoại tệ đạt 95% đến 97% giá trị xuất khẩu nhờ sử dụng chủ yếu nguồn nguyên liệu trong nước (nguyên phụ liệu nhập khẩu chỉ chiếm 3% đến 5%).
Tuy nhiên, vị thế xuất khẩu của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam vẫn ở mức khiêm tốn trên thị trường quốc tế (năm 2001 chỉ chiếm 0,24% kim ngạch nhập khẩu gốm nhóm HS 69 vào Hoa Kỳ). Ngành gốm Việt Nam phải chịu sức ép cạnh tranh từ các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc (thị phần tại Hoa Kỳ đạt 24,86% năm 2001, tại Nhật Bản đạt 76,81% năm 2003), Thái Lan (3,14% tại Hoa Kỳ) và Malaysia. Khoảng cách chênh lệch tiền lương nhân công giữa Việt Nam và các nước láng giềng thu hẹp dần, trong khi giá nguyên vật liệu, nhiên liệu tăng cao và quy trình công nghệ còn nhiều hạn chế.
Trước bối cảnh Việt Nam triển khai Nghị quyết 07-NQ/TW ngày 27 tháng 11 năm 2001 của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế và chuẩn bị gia nhập Hiệp định thương mại tự do AFTA cùng Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm gốm mỹ nghệ trở thành yêu cầu cấp thiết để thực hiện mục tiêu xuất khẩu 1,5 tỷ USD hàng thủ công mỹ nghệ vào năm 2010 theo định hướng của Chính phủ. Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Vũ Minh Tâm thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh năm 2006 tập trung giải quyết khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về năng lực cạnh tranh thực tế của gốm mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam trong tương quan đối sánh với các đối thủ cạnh tranh quốc tế.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Hệ thống hóa các học thuyết và cơ sở lý luận về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh nhằm xác định cơ sở khoa học của việc nâng cao khả năng cạnh tranh cho gốm mỹ nghệ Việt Nam.
- Tổng kết kinh nghiệm thực tế trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh ngành gốm của các quốc gia trong khu vực gồm Trung Quốc, Thái Lan và Malaysia để rút ra bài học áp dụng cho Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng sản xuất và kinh doanh xuất khẩu của ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam giai đoạn 1999–2004.
- Phân tích, định vị khả năng cạnh tranh và xác định mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm gốm mỹ nghệ Việt Nam thông qua khảo sát thực nghiệm và mô hình định lượng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đối với doanh nghiệp và kiến nghị chính sách đối với Nhà nước nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Khả năng cạnh tranh ở cấp độ sản phẩm của mặt hàng gốm mỹ nghệ Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Tập trung khảo sát thực địa tại 4 vùng sản xuất gốm mỹ nghệ trọng điểm đóng góp trên 95% kim ngạch xuất khẩu của cả nước gồm Bát Tràng (Hà Nội), Bình Dương, Đồng Nai và Vĩnh Long. Nghiên cứu mở rộng so sánh thực địa tại Trung Quốc (Quảng Châu, Phật Sơn, Triều Châu, Thâm Quyến), Thái Lan (Chonburi, Lopburi, Lampang, Bangkok) và Malaysia (Ipoh); khảo sát khách hàng tại các hội chợ thương mại quốc tế ở Chicago, Frankfurt, Cologne, Hong Kong, Melbourne, Birmingham, Tokyo, Osaka.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát thực nghiệm tập trung trong giai đoạn 5 năm từ năm 1999 đến hết năm 2004.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong nước, nhiều công trình nghiên cứu đã tiếp cận các khía cạnh phát triển và xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: "Những giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu gốm sứ mỹ nghệ Việt Nam" do PGS. Đoàn Thị Hồng Vân làm chủ nhiệm, tập trung phân tích thực trạng và nguyên nhân kìm hãm tiềm năng xuất khẩu để đưa ra giải pháp tổng thể.
- Đề tài khoa học cấp tỉnh: "Nghiên cứu xây dựng chiến lược, đề xuất giải pháp thực hiện chương trình hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Vĩnh Long đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020" do GS. Võ Thanh Thu làm chủ nhiệm, xác định chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh cho gốm Vĩnh Long trong bức tranh kinh tế địa phương.
- Đề án phát triển ngành gốm mỹ nghệ xuất khẩu Vĩnh Long từ năm 2004 đến năm 2010 do Sở Công nghiệp tỉnh Vĩnh Long soạn thảo, phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của riêng địa bàn Vĩnh Long.
- Báo cáo quy hoạch phát triển ngành gốm mỹ nghệ tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2001–2010 do Sở Công nghiệp tỉnh Đồng Nai thực hiện, phân tích khó khăn nội tại và định hướng quy hoạch ngành gốm địa phương.
- Các bài báo và tham luận trên các tạp chí chuyên ngành kinh tế, thương mại phản ánh công nghệ mới, thị hiếu tiêu dùng và hoạt động sản xuất ở các làng nghề.
Khoảng trống nghiên cứu: Các công trình trước đây chủ yếu đưa ra giải pháp phát triển tổng quát hoặc quy hoạch riêng lẻ theo từng địa phương. Ngành gốm mỹ nghệ chưa được nghiên cứu chuyên sâu ở góc độ phân tích định vị cạnh tranh quốc tế, chưa so sánh dữ liệu thực tế về chi phí, giá bán FOB/CFR, công nghệ và phương thức xúc tiến thương mại với các đối thủ trực tiếp trong khu vực. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách thu thập dữ liệu sơ cấp từ các nhà nhập khẩu nước ngoài và doanh nghiệp sản xuất tại 3 nước đối thủ, kết hợp khảo sát 115 cơ sở trong nước để lượng hóa các nhân tố chi phối năng lực cạnh tranh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết cạnh tranh của C. Mác: Cạnh tranh hình thành từ phân công lao động xã hội và sự tách biệt về mặt lợi ích giữa các chủ thể. Cạnh tranh diễn ra trên ba bình diện: giá thành (nâng cao năng suất lao động), chất lượng (nâng cao giá trị sử dụng) và chuyển dịch tư bản giữa các ngành; đóng vai trò điều tiết phân phối giá trị thặng dư và thúc đẩy áp dụng tiến bộ kỹ thuật.
- Thuyết cạnh tranh của Adam Smith: Tự do cạnh tranh điều tiết cung cầu xã hội, thúc đẩy chuyên môn hóa lao động và gia tăng của cải quốc gia dựa trên lợi thế tuyệt đối về chi phí.
- Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo và Lý thuyết Heckscher - Ohlin - Samuelson: Phân tích lợi thế cạnh tranh dựa trên sự dồi dào tương đối của các yếu tố sản xuất (lao động, vốn, tài nguyên thiên nhiên).
- Lý thuyết lợi thế cạnh tranh của Michael E. Porter: Mô hình Kim cương (yếu tố đầu vào, điều kiện nhu cầu, các ngành hỗ trợ/liên quan, chiến lược/cấu trúc/mức độ cạnh tranh nội bộ), Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh (đối thủ tiềm năng, nhà cung cấp, người mua, sản phẩm thay thế, mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành) và Chuỗi giá trị (Value Chain).
- Phương pháp luận đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF): Đánh giá Chỉ số Cạnh tranh Hiện tại (CCI - Current Competitiveness Index) dựa trên môi trường kinh doanh vi mô và hoạt động chiến lược của doanh nghiệp.
- Hệ thống chỉ số đánh giá chuyên biệt cho gốm mỹ nghệ: Đơn giá bán sản phẩm; chất lượng sản phẩm và bao bì; tốc độ đổi mới và mức độ đa dạng của mẫu mã; khả năng hoàn thành đơn hàng lớn đúng hạn; mức độ tin cậy trong cam kết giao hàng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp duy vật biện chứng, logic hình thức, phân tích định tính và định lượng:
- Thu thập dữ liệu sơ cấp qua 3 cuộc khảo sát thực địa:
- Khảo sát quốc tế tại 3 nước đối thủ: 12 đơn vị tại Trung Quốc (Quảng Châu, Phật Sơn, Triều Châu, Thâm Quyến); 6 đơn vị tại Thái Lan (Chonburi, Lopburi, Lampang, Bangkok); 4 đơn vị tại Malaysia (Ipoh).
- Khảo sát doanh nghiệp sản xuất trong nước: Điều tra bằng bảng câu hỏi đối với 115 cơ sở sản xuất, kinh doanh gốm mỹ nghệ tại Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long.
- Khảo sát thị trường nhập khẩu: Phỏng vấn trực tiếp và phát phiếu điều tra tới 112 nhà nhập khẩu quốc tế tại các hội chợ thương mại lớn ở Chicago, Frankfurt, Cologne, Hong Kong, Melbourne, Birmingham, Tokyo, Osaka.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Thống kê mô tả, so sánh giá FOB/CFR, kiểm định mức độ hài lòng của nhà nhập khẩu bằng thang đo và ước lượng mô hình hồi quy đa biến bằng phương pháp Enter để xác định mức độ tác động của các yếu tố cấu thành đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm.
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Niên giám thống kê, báo cáo số liệu của Bộ Thương mại, Tổng cục Hải quan, cơ quan xúc tiến JETRO (Nhật Bản), cơ quan xúc tiến nhập khẩu từ các nước đang phát triển (CBI - Hà Lan), số liệu hải quan quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học để đánh giá khả năng cạnh tranh và khẳng định sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa các quan điểm lý luận về ba cấp độ cạnh tranh: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Luận án làm rõ vai trò kinh tế - xã hội của sản phẩm gốm mỹ nghệ: tạo việc làm cho nông nhàn, mang lại tỷ lệ giá trị thực thu ngoại tệ cao (95%–97%) và truyền tải văn hóa dân tộc ra quốc tế.
Phân tích số liệu nhập khẩu gốm nhóm HS 69 cho thấy cơ cấu tiêu thụ tập trung tại ba thị trường trọng điểm:
- Thị trường EU: Nhập khẩu hàng năm trên 800 triệu Euro (năm 2004 đạt 814,84 triệu Euro). Thị phần gốm nhập khẩu vào EU năm 2004 phân bổ: Trung Quốc chiếm 16%, Thái Lan 4%, Malaysia 3%, Indonesia 1%, các nước khác 76%.
| Nhóm sản phẩm gốm nhập khẩu vào EU |
Kim ngạch năm 2004 (Triệu Euro) |
| Tượng và chậu cảnh các loại |
252,16 |
| Vật dụng bằng gốm dùng trang trí trong nhà, vườn (HS 69120050) |
244,43 |
| Chậu cây dùng trong nhà (HS 69120010) |
114,94 |
| Chậu có men dạng tròn và gạch gốm |
42,95 |
| Chậu và các sản phẩm đất nung (HS 69076093) |
27,87 |
| Tổng cộng |
814,84 |
- Thị trường Hoa Kỳ: Kim ngạch nhập khẩu gốm đạt 4,6 tỷ USD năm 2000 và 4,2 tỷ USD năm 2001. Thị phần năm 2001 do Trung Quốc chiếm giữ 24,86%, Thái Lan 3,14%, Indonesia 2,18%, Việt Nam chiếm 0,24%.
- Thị trường Nhật Bản: Nhập khẩu tăng từ 38.035 tấn (21,818 tỷ Yên) năm 1999 lên 75.944 tấn (28,051 tỷ Yên) năm 2003, trong đó Trung Quốc chiếm 76,81% thị phần năm 2003.
| Chỉ tiêu nhập khẩu gốm vào Nhật Bản |
1999 |
2000 |
2001 |
2002 |
2003 |
| Số lượng sứ gia dụng (Tấn) |
10.751 |
15.607 |
16.484 |
19.171 |
24.480 |
| Trị giá sứ gia dụng (Triệu Yên) |
15.349 |
16.430 |
16.581 |
16.626 |
18.321 |
| Số lượng gốm các loại (Tấn) |
27.284 |
37.829 |
45.800 |
46.031 |
51.103 |
| Trị giá gốm các loại (Triệu Yên) |
6.469 |
7.484 |
9.530 |
9.851 |
9.730 |
| Tổng số lượng (Tấn) |
38.035 |
53.436 |
62.284 |
65.202 |
75.944 |
| Tổng trị giá (Triệu Yên) |
21.818 |
23.914 |
26.111 |
26.477 |
28.051 |
Tổng kết khảo sát thực tế tại ba nước trong khu vực:
- Trung Quốc: Hoàn thiện chuyên môn hóa chế biến đất cao lanh công nghiệp quy mô lớn; cơ giới hóa tạo hình mộc; sử dụng lò nung gas; chiêu thị thông qua Hội chợ Canton (tháng 4 và tháng 10 hàng năm) kết hợp du lịch; Chính phủ cấp tín dụng ưu đãi lãi suất thấp đối với doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu mở L/C.
- Malaysia: Cơ giới hóa cao bằng máy ép thủy lực sản xuất chậu hoa hàng loạt, sử dụng lò dầu buồng lớn di động; hạn chế là mẫu mã đơn điệu, chi phí khuôn đắt và thiếu lao động trang trí thủ công.
- Thái Lan: Vùng Lampang tự động hóa sản xuất sứ kỹ thuật và gia dụng cao cấp; vùng Chonburi, Lopburi duy trì kỹ thuật vuốt bàn xoay thủ công tạo lợi thế khác biệt hóa; Hiệp hội gốm sứ và Trung tâm phát triển gốm hỗ trợ nghiên cứu nguyên liệu, giảm tỷ lệ phế phẩm và kiểm soát giá bán.
Chương 2: Đánh giá khả năng cạnh tranh và những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của gốm mỹ nghệ Việt Nam
Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về sản xuất - xuất khẩu và phân tích thực nghiệm các nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh:
- Thực trạng xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam tăng từ 22,4 triệu USD (1995) lên 147,5 triệu USD (2004). Bốn vùng sản xuất Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long tạo ra hơn 95% giá trị xuất khẩu.
- So sánh đơn giá bán sản phẩm (FOB/CFR): Đơn giá gốm Việt Nam thấp hơn gốm Thái Lan nhưng cao hơn sản phẩm cùng loại của Trung Quốc ở phân khúc hàng sản xuất hàng loạt do chi phí vận tải container nội địa và đường biển cao, hao hụt nung đốt lớn.
- Đánh giá của 112 nhà nhập khẩu quốc tế:
- Chất lượng sản phẩm và giá cả: Sản phẩm gốm Việt Nam được đánh giá tốt về tính thẩm mỹ thủ công truyền thống nhưng độ đồng đều cơ lý tính thấp hơn hàng Trung Quốc và Thái Lan.
- Mẫu mã và tốc độ đổi mới: Khả năng sao chép mẫu nhanh nhưng thiếu năng lực tự thiết kế mẫu mã độc lập phù hợp thị hiếu từng thị trường nhập khẩu.
- Bao bì đóng gói: Chất lượng thùng carton và quy cách đóng gói chêm lót còn yếu, tỷ lệ đổ vỡ trong vận chuyển cao.
- Năng lực thực hiện đơn hàng lớn và cam kết giao hàng: 70% doanh nghiệp khảo sát có quy mô nhỏ và vừa, năng lực cung ứng đơn hàng khối lượng lớn trong thời gian ngắn còn hạn chế; mức độ tin cậy về thời gian giao hàng thấp hơn Malaysia và Thái Lan.
- Phân tích các nhân tố nội bộ ảnh hưởng đến chi phí:
- Thời gian sử dụng máy móc thiết bị cũ, tỷ lệ sử dụng lò nung củi/than truyền thống tại một số làng nghề gây ô nhiễm và tỷ lệ phế phẩm cao.
- Biến động chi phí nguyên liệu đất sét, men màu và giá nhiên liệu (gas, dầu, củi) làm gia tăng giá thành đơn vị sản phẩm.
- Tuổi trung bình của công nhân tăng, thiếu hụt lực lượng lao động trẻ có tay nghề cao và thiếu chuyên gia kỹ thuật tạo dáng, pha chế men.
- Cước vận chuyển container 40 feet nội địa và cước tàu biển đi Châu Âu cao hơn so với các cảng xuất khẩu lớn của Trung Quốc.
- Mô hình hồi quy thực nghiệm về khả năng cạnh tranh:
- Luận án xây dựng mô hình hồi quy đa biến dạng tuyến tính (Bảng 2.35 đến Bảng 2.39) ước lượng bằng phương pháp Enter.
- Các biến giải thích độc lập phản ánh: giá bán đơn vị sản phẩm, chất lượng sản phẩm, mức độ đa dạng mẫu mã, tốc độ đổi mới kiểu dáng, chất lượng bao bì, năng lực đáp ứng đơn hàng lớn và cam kết thời gian giao hàng.
- Kết quả hồi quy xác định mức độ đóng góp và ý nghĩa thống kê của từng nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh tổng thể của sản phẩm gốm mỹ nghệ trên thị trường xuất khẩu.
Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm đẩy mạnh xuất khẩu gốm mỹ nghệ Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp thực thi đồng bộ:
1. Nhóm giải pháp đối với doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu
- Đổi mới công nghệ và chuẩn hóa nguyên liệu: Chuyển đổi công nghệ nung sang lò gas con thoi hoặc lò gas đường hầm nhằm kiểm soát nhiệt độ nung chính xác, giảm tỷ lệ hàng phế phẩm; hợp tác hình thành các cơ sở chế biến nguyên liệu đất mộc, men màu tập trung đạt tiêu chuẩn ổn định trước khi đưa vào sản xuất.
- Cải tiến mẫu mã và bao bì đóng gói: Thành lập bộ phận thiết kế mẫu mã chuyên trách; kết hợp hoa văn truyền thống với kiểu dáng hiện đại phù hợp thị hiếu tiêu dùng phương Tây; đầu tư công nghệ bao bì carton nhiều lớp chịu lực, màng xốp giảm chấn chống va đập đạt chuẩn vận chuyển đường biển quốc tế.
- Tăng cường liên kết sản xuất và liên doanh: Khắc phục tình trạng manh mún thông qua việc hình thành cụm liên kết giữa các xưởng vệ tinh chuyên môn hóa từng công đoạn (tạo hình, phơi sấy, tráng men, nung đốt, bao bì) xoay quanh doanh nghiệp đầu mối; liên kết bảo vệ giá sàn xuất khẩu, tránh phá giá lẫn nhau.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Tổ chức đào tạo nghề có bài bản cho thợ tạo hình và thợ vẽ men; tuyển dụng kỹ sư công nghệ silicat và chuyên gia mỹ thuật công nghiệp; xây dựng chính sách tiền lương, đãi ngộ gắn với tay nghề và sản phẩm đạt chất lượng cao.
- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và quảng bá thương hiệu: Chủ động tham gia các hội chợ chuyên ngành quốc tế tại EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản; xây dựng website giới thiệu sản phẩm và quy trình chế tác; quảng bá thương hiệu gốm Việt Nam gắn liền với văn hóa làng nghề truyền thống.
2. Các kiến nghị đối với Chính phủ và cơ quan quản lý Nhà nước
- Quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu và làng nghề bền vững: Lập quy hoạch khai thác tài nguyên đất sét sét, cao lanh; di dời các cơ sở nung đốt gây ô nhiễm vào các khu, cụm công nghiệp gốm tập trung có hệ thống xử lý khí thải và hạ tầng logistics đồng bộ tại Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long.
- Chính sách hỗ trợ tài chính và tín dụng: Thiết lập quỹ hỗ trợ vốn vay ưu đãi lãi suất thấp cho các dự án đầu tư thay thế lò nung gas tiết kiệm năng lượng; hỗ trợ vốn lưu động khi doanh nghiệp ký được hợp đồng xuất khẩu thanh toán bằng L/C.
- Nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại Nhà nước: Bộ Thương mại và Cục Xúc tiến Thương mại chủ trì hỗ trợ kinh phí cho các đoàn doanh nghiệp tham gia hội chợ thương mại quốc tế uy tín; xây dựng trung tâm triển lãm sản phẩm thủ công mỹ nghệ quốc gia.
- Hoàn thiện công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và kiểu dáng công nghiệp: Rút ngắn thời gian đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ kiểu dáng sản phẩm gốm mỹ nghệ; phối hợp với các tổ chức quốc tế hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại thị trường nước ngoài.
- Hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài và liên doanh với nhà nhập khẩu: Xây dựng cơ chế thông thoáng khuyến khích doanh nghiệp gốm trong nước góp vốn liên doanh thành lập trung tâm phân phối, kho hàng hoặc showroom trưng bày trực tiếp tại các thị trường tiêu thụ trọng điểm (EU, Hoa Kỳ).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý thuyết về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh áp dụng cho một ngành kinh tế kỹ thuật - mỹ thuật đặc thù: ngành thủ công mỹ nghệ truyền thống hướng về xuất khẩu.
- Xây dựng khung phân tích và mô hình hồi quy lượng hóa các nhân tố cấu thành khả năng cạnh tranh của sản phẩm gốm mỹ nghệ trên thị trường quốc tế, bổ sung tiêu chí đánh giá phi giá cả (tốc độ đổi mới mẫu mã, chất lượng bao bì, tính ổn định trong giao hàng).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh dữ liệu thực nghiệm về thị phần, giá bán FOB/CFR và cơ cấu xuất khẩu của gốm mỹ nghệ Việt Nam giai đoạn 1999–2004 tại các thị trường trọng điểm EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản.
- Khảo sát thực địa và đúc kết kinh nghiệm phát triển công nghệ, xúc tiến thương mại của ba nước đối thủ trực tiếp trong khu vực (Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia), chỉ ra điểm mạnh cần học tập và nhược điểm cần tránh.
- Đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện và kiến nghị chính sách khả thi, gắn liền với việc xử lý các bất cập nội tại của 4 trung tâm sản xuất gốm lớn nhất Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về nguồn số liệu: Do đặc thù phân tán của ngành thủ công mỹ nghệ, số liệu thứ cấp thống kê chi tiết về từng chủng loại gốm mỹ nghệ còn hạn chế; việc phân loại mã số hải quan (HS 69) ở một số thị trường bao gồm chung cả gốm gia dụng và sứ kỹ thuật.
- Phạm vi không gian khảo sát: Nghiên cứu tập trung tại 4 vùng sản xuất chủ lực (Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long) và 3 quốc gia đối thủ trong khu vực Châu Á; chưa mở rộng điều tra sâu tại các làng nghề quy mô nhỏ ở miền Trung hoặc các đối thủ ở khu vực Mỹ Latinh, Châu Âu.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu tác động của các rào cản kỹ thuật thương mại (TBT), tiêu chuẩn an toàn môi trường và trách nhiệm xã hội đối với gốm xuất khẩu khi Việt Nam gia nhập WTO; khảo sát chi tiết chuỗi giá trị toàn cầu của mặt hàng gốm trang trí nội - ngoại thất.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Thương mại quốc tế, Quản trị kinh doanh: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp kết hợp khảo sát thực địa quốc tế và mô hình hóa định lượng trong đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu.
- Đối với doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu gốm mỹ nghệ: Cung cấp số liệu so sánh về giá thành, công nghệ và tiêu chí đánh giá của nhà nhập khẩu nước ngoài làm căn cứ tái cấu trúc quy trình công nghệ và chiến lược tiếp thị.
- Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Thương mại, Bộ Công nghiệp, Sở Công nghiệp các tỉnh Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long): Làm cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch làng nghề, hoạch định chính sách xúc tiến thương mại và xây dựng quỹ hỗ trợ vốn đổi mới công nghệ lò nung.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ giá trị thực thu ngoại tệ từ xuất khẩu gốm mỹ nghệ của Việt Nam đạt bao nhiêu và vì sao có tỷ lệ này?
Tỷ lệ thực thu ngoại tệ từ xuất khẩu gốm mỹ nghệ đạt từ 95% đến 97% giá trị xuất khẩu, cao hơn nhiều so với ngành dệt may, da giày (chỉ đạt 20% đến 25%) và điện tử, linh kiện máy tính (5% đến 10%). Nguyên nhân là do ngành gốm mỹ nghệ sử dụng nguồn nguyên liệu đất sét, cao lanh có sẵn trong nước; chi phí nguyên phụ liệu nhập khẩu chỉ chiếm 3% đến 5% giá trị sản phẩm.
2. Thị phần xuất khẩu gốm của Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản giai đoạn 2001–2003 đạt bao nhiêu so với các đối thủ trong khu vực?
Tại thị trường Hoa Kỳ năm 2001, Việt Nam chỉ chiếm 0,24% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng gốm (HS 69), thấp hơn rất nhiều so với Trung Quốc (24,86%), Thái Lan (3,14%) và Indonesia (2,18%). Tại thị trường Nhật Bản năm 2003, Trung Quốc nắm giữ 76,81% thị phần kim ngạch nhập khẩu gốm các loại, trong khi thị phần của Việt Nam ở mức rất nhỏ.
3. Tác giả đã thực hiện khảo sát thực địa sơ cấp tại những địa điểm nào và với dung lượng mẫu bao nhiêu?
Tác giả trực tiếp thực hiện 3 cuộc khảo sát thực địa:
- Khảo sát tại 3 quốc gia đối thủ: 12 cơ sở tại Trung Quốc (Quảng Châu, Phật Sơn, Triều Châu, Thâm Quyến), 6 cơ sở tại Thái Lan (Chonburi, Lopburi, Lampang, Bangkok) và 4 cơ sở tại Malaysia (Ipoh).
- Khảo sát trong nước: 115 cơ sở sản xuất kinh doanh tại 4 vùng trọng điểm (Bát Tràng, Bình Dương, Đồng Nai, Vĩnh Long).
- Khảo sát thị trường nhập khẩu: 112 nhà nhập khẩu quốc tế tại các hội chợ thương mại ở Chicago, Frankfurt, Cologne, Hong Kong, Melbourne, Birmingham, Tokyo, Osaka.
4. Điểm mạnh và điểm yếu nổi bật trong công nghệ sản xuất gốm của Malaysia và Thái Lan được luận án chỉ ra là gì?
- Malaysia: Điểm mạnh là trình độ cơ giới hóa cao bằng máy ép thủy lực và sử dụng lò dầu buồng lớn di động giúp tạo hình nhanh, sản phẩm đồng đều; điểm yếu là mẫu mã nghèo nàn, đơn điệu, chi phí khuôn ép cao và thiếu lao động trang trí thủ công.
- Thái Lan: Vùng Lampang đạt trình độ tự động hóa cao trong sản xuất sứ cao cấp; vùng Chonburi duy trì phương pháp xoay bàn xoay bằng tay tạo lợi thế khác biệt hóa thủ công truyền thống; Hiệp hội gốm sứ thành lập Trung tâm phát triển gốm hỗ trợ kỹ thuật và kiểm soát giá bán.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Minh Tâm đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về khả năng cạnh tranh của ngành gốm mỹ nghệ xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn 1999–2004. Thông qua việc thu thập dữ liệu sơ cấp từ 115 cơ sở trong nước, 112 nhà nhập khẩu quốc tế và các cuộc khảo sát thực địa tại Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, công trình đã xác định rõ các nhân tố chi phối năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm đổi mới công nghệ lò gas, chuẩn hóa nguyên liệu, nâng cao chất lượng bao bì, tăng cường liên kết ngành và kiến nghị chính sách tín dụng, quy hoạch vùng sản xuất bền vững mang giá trị ứng dụng thiết thực cho ngành gốm mỹ nghệ Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.