Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ 1. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh 1. Cạnh tranh Khái niệm cạnh tranh xuất hiện từ rất lâu và trở thành chủ ñề ñược bàn thảo nhiều.
Tuy nhiên, do cách tiếp cận và mục ñích nghiên cứu khác nhau nên trong thực tế có rất nhiều quan ñiểm khác nhau về cạnh tranh. Các nhà nghiên cứu kinh tế thuộc trường phái kinh tế học tư sản cổ ñiển với ñại diện tiêu biểu là Adam Smith, miêu tả cạnh tranh như là một cách thức chống lại các ñối thủ hay là “một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng”. Quá trình này tạo ra cho mỗi thành viên trong thị trường một phạm vi hoạt ñộng nhất ñịnh và mang lại cho mỗi thành viên này một phần lợi ích xứng ñáng so với khả năng của chính họ. Adam Smith cổ vũ cho sự tự do cạnh tranh vì theo ông quá trình này có thể kết hợp một cách nhịp nhàng các hoạt ñộng của nền kinh tế, nâng cao khả năng người lao ñộng, ñiều tiết các yếu tố tư bản một cách hợp lý.
Trong khi ñó Các Mác lại nhận ñịnh sự ra ñời và tồn tại của cạnh tranh dựa vào hai ñiều kiện cơ bản: phân công xã hội và chủ thể lợi ích ña nguyên. Trong các phân tích về cạnh tranh của mình, Các Mác ñề cập nhiều ñến cạnh tranh giữa những người sản xuất và cạnh tranh ñó ảnh hưởng tới người tiêu dùng. Theo Mác, cạnh tranh của các nhà sản xuất diễn ra trên ba phương diện: cạnh tranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao ñộng giữa các nhà tư bản nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng thông qua nâng cao giá trị sử dụng hàng hoá; cạnh tranh giữa các ngành thông qua khả năng luân chuyển tư bản, từ ñó các nhà tư bản tìm kiếm các giá trị thặng dư. 13 Lý luận cạnh tranh hoàn hảo của trường phái Tân cổ ñiển lại cổ vũ cho cạnh tranh tự do với mô hình cạnh tranh hoàn hảo.
Trong ñó, sản xuất do thị hiếu người tiêu dùng ñiều khiển thông qua cơ chế thị trường. Muốn ñạt lợi ích tối ña, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất theo nguyên tắc sao cho chi phí biên (MC) ngang bằng với lợi ích cận biên của người tiêu dùng (MU). Mô hình thị trường cạnh tranh hoàn hảo ñề cao lựa chọn người tiêu dùng (thị trường) vì nó thúc ñẩy các công ty ñiều chỉnh quy mô sản xuất tới tối ưu (MR=MC). Các trường phái của kinh tế học hiện ñại thì phân tích cạnh tranh dưới nhiều cấp ñộ khác nhau từ cạnh tranh quốc gia, cạnh tranh ngành, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay giữa các sản phẩm.
Tuy nhiên, dù tiếp cận dưới góc ñộ nào thì cạnh tranh cũng bao gồm các ñặc ñiểm cơ bản sau: Thứ nhất, cạnh tranh là một quá trình tất yếu của hoạt ñộng kinh tế, về cơ bản, cạnh tranh lành mạnh là ñộng lực thúc ñẩy sự tăng trưởng kinh tế và nâng cao hiệu quả xã hội. Thứ hai, nói ñến cạnh tranh là nói ñến sự ganh ñua giữa các chủ thể cạnh tranh. Cạnh tranh chỉ diễn ra khi có nhiều chủ thể cùng tham gia vào một quá trình/hoạt ñộng kinh tế Thứ ba, trong một thời gian nhất ñịnh, các chủ thể tham gia cạnh tranh nhằm hướng tới một mục tiêu cụ thể. Các mục tiêu này có thể giống hoặc khác nhau giữa các chủ thể cũng như có tác ñộng rất khác nhau tới các chủ thể cạnh tranh nhưng mục ñích chung vẫn là tìm kiếm hoặc tối ưu hoá lợi ích trong ngắn hoặc dài hạn.
Thứ tư, các hoạt ñộng cạnh tranh ñược diễn ra trong một bối cảnh cụ thể với các ràng buộc về luật pháp, cam kết, thông lệ, văn hoá. mà các chủ thể cạnh tranh ñều phải thực hiện. Về mặt lý thuyết, cạnh tranh lành mạnh sẽ có ñược khi tất cả các chủ thể cạnh tranh ñều tuân thủ các ràng buộc này. 14 Thứ năm, xu thế của cạnh tranh hiện ñại là chuyển từ ñối kháng sang việc tạo ra sự khác biệt.
Với sự mở rộng không ngừng của thị trường và sự tham gia ngày càng nhiều của các chủ thể cạnh tranh nên việc cạnh tranh ñối kháng, tiêu diệt ñối thủ ñang dần mất ñi ý nghĩa. Việc cạnh tranh ñối kháng có thể làm suy giảm nguồn lực trong ngắn hạn và tạo cơ hội cho các ñối thủ khác. Do vậy, các chủ thể cạnh tranh ñang có xu hướng giảm hoặc né tránh cách thức cạnh tranh này. Cạnh tranh ñối kháng thường xuất hiện nhiều hơn tại các thị trường có ít chủ thể cạnh tranh như thị trường ñộc quyền nhóm.
Các chủ thể cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau nhằm tạo ra sự khác biệt ñược thị trường chấp nhận ñể ñạt ñược các mục tiêu ñã ñề ra. Dưới góc ñộ doanh nghiệp, cạnh tranh là việc ñấu tranh hoặc giành giật từ một số ñối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận là một khái niệm ñược sử dụng rộng rãi và phản ánh khá ñầy ñủ các ñặc ñiểm của cạnh tranh. Phân loại cạnh tranh Cạnh tranh có thể ñược phân nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau: * Theo tiêu chí chủ thể tham gia cạnh tranh có thể phân loại cạnh tranh theo các hình thức sau: - Cạnh tranh giữa người sản xuất với nhau: ðây là hình thức phổ biến nhất của cạnh tranh. Theo hình thức này, các nhà sản xuất ñấu tranh với nhau ñể giành chỗ ñứng trên thị trường (thị phần, kênh phân phối, sản phẩm.) ñể có thể ñạt ñược các mục tiêu ngắn hạn của mình và qua ñó ñảm bảo sự phát triển ổn ñịnh và bền vững.
- Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Người mua ở ñây không chỉ là người tiêu dùng mà còn bao gồm cả các nhà sản xuất. Theo hình thức này, những người mua sẽ ñấu tranh với nhau ñể có thể tiếp cận ñược nguồn hàng ổn ñịnh cả về số lượng và chất lượng với mức giá thấp nhất. Cường ñộ 15 của hình thức cạnh tranh này phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ cung cầu và sẽ tăng cao khi cầu lớn hơn cung. Hình thức này rất phổ biến trong những ngành kinh doanh mang tính thời vụ (như du lịch) khi vào thời vụ tiêu dùng.
- Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Hình thức cạnh tranh này luôn xảy ra trong các hoạt ñộng kinh tế. Theo ñó người mua luôn tìm mọi cách ñể mua ñược sản phẩm và dịch vụ tại mức giá thấp nhất với chất lượng, số lượng, chủng loại và ñiều kiện giao hàng (thực hiện dịch vụ) thuận lợi nhất trong khi người bán lại mong muốn ngược lại. Lợi thế cạnh tranh trong trường hợp này phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ cung cầu, số lượng các chủ thể tham gia giao dịch (người mua và người bán) cũng như mức ñộ quan trọng của sản phẩm, dịch vụ ñối với người mua. * Theo tiêu chí cấp ñộ của cạnh tranh có các hình thức cạnh tranh chính sau: - Cạnh tranh của sản phẩm: ðây là hình thức cạnh tranh phổ biến, diễn ra ñối với hầu hết các mặt hàng/dịch vụ có nhiều hơn một nhà cung cấp.
Theo hình thức này, các doanh nghiệp sẽ cố gắng ñầu tư từ khâu thiết kế, sản xuất (hoặc thực hiện) ñến hoạt ñộng xúc tiến, phân phối và bán hàng sao cho sản phẩm của mình dễ dàng xâm nhập thị trường và có ñược chỗ ñứng ngày càng vững chắc, ổn ñịnh trên thị trường so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại. Xét trên một số khía cạnh, hình thức cạnh tranh này có nhiều ñiểm tương ñồng với hình thức cạnh tranh giữa người bán với nhau. - Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành: ðây là quá ñấu tranh hoặc giành giật từ một hoặc một số ñối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp trong cùng một ngành ñể có thể tồn tại và phát triển trong ngành ñó. Trong một lĩnh vực kinh doanh, một doanh nghiệp có thể có nhiều sản phẩm nhưng việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp không ñơn thuần là tổng cạnh tranh của các sản phẩm mà nó còn bao gồm các yếu tố hạ tầng của doanh nghiệp (xem sơ ñồ 1) cũng như cách quản lý, khai thác và phát triển các yếu tố này.
16 - Các tranh giữa các ngành: Hình thức cạnh tranh này diễn ra giữa các ngành trong nền kinh tế từ việc thu hút, phân bổ nguồn lực ñến cả việc phân chia thị trường. Một biểu hiện hay ñược nhắc ñến của cạnh tranh ngành là việc cạnh tranh của các sản phẩm thay thế. Tuy nhiên nội dung ñặc biệt quan trọng của cạnh tranh ngành là việc thu hút và phân bổ nguồn lực có thể dẫn ñến sự thay ñổi kết cấu ngành và thậm chí ảnh hưởng trực tiếp ñến sự tồn tại và phát triển của một ngành, một lĩnh vực trong nền kinh tế. Về mặt lý thuyết, cạnh tranh ngành sẽ giúp xã hội phân bố nguồn lực một cách hợp lý và hiệu quả (hiệu quả pareto).
- Cạnh tranh quốc gia: Hình thức cạnh tranh này thể hiện qua việc các quốc gia nỗ lực ñể xây dựng môi trường kinh tế chung ổn ñịnh, ñảm bảo phân bố hiệu quả nguồn lực và ñạt/duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp và công dân của mình. Vấn ñề cạnh tranh quốc gia hiện rất ñược các chính phủ quan tâm và có ảnh hưởng sâu sắc tới các doanh nghiệp trong ñiều kiện toàn cầu hoá về kinh tế. Các nghiên cứu về cạnh tranh quốc gia này ñược Diễn ñàn kinh tế thế giới (WEF) thực hiện thường niên với 8 nhóm nhân tố chính (xem phụ lục 8). Khả năng cạnh tranh Khả năng cạnh tranh (competitiveness) là một khái niệm ñược sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế cũng như trong ñời sống kinh tế xã hội.
Nếu như trong ñời sống, khái niệm này ñược hiểu một cách ñơn giản là khả năng một cá nhân/tổ chức giành chiến thắng hoặc ñạt mục ñích của mình so với các cá nhân/tổ chức khác thì trong trong các nghiên cứu kinh tế, khả năng cạnh tranh lại thường ñược tiếp cận theo các hướng khác nhau. Theo quan ñiểm vĩ mô, khả năng cạnh tranh là vấn ñề quốc gia và mục tiêu cơ bản là nâng cao thu nhập thực tế cho cộng ñồng. Theo quan ñiểm này, khả năng cạnh tranh là khái niệm rất rộng, bao quát mọi khía cạnh kinh tế, văn hoá và xã hội, ảnh hưởng ñến thành quả của một quốc gia trên thị trường quốc tế.