Phần mở đầu 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Ngày nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giữ một vị trí rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của đất nƣớc ta. Đặc biệt trong tiến trình hội nhập, với khoảng trên 98% DNVVN chiếm trong tổng số DN có đăng kí thành lập, khu vực này đã tạo ra công ăn việc làm cho một số lƣợng lao động không nhỏ, đóng góp vào phân nửa GDP của đất nƣớc. Nhƣng để thúc đẩy sự phát triển DNVVN ở nƣớc ta đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các khó khăn mà các DN này đang gặp phải liên quan đến nhiều vấn đề. Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất, làm tiền đề cho các khó khăn nhất đó là thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ.
Vậy DN này phải tìm vốn ở đâu trong điều kiện thị trƣờng vốn ở Việt Nam chƣa hoàn thiện và bản thân các DN này khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, chúng ta cũng chƣa có chính sách hỗ trợ các DN này một cách hợp lý. Vì vậy việc giải quyết khó khăn về vốn cho các DNVVN đã và đang là một vấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà nƣớc, bản thân các DN, các tổ chức tín dụng cũng phải quan tâm giải quyết. Thực tế trong năm 2011 vừa qua DNVVN gặp rất nhiều khó khăn bởi vì ảnh hƣởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu bên cạnh đó nguồn vốn tín dụng NH đầu tƣ cho phát triển DNVVN còn rất hạn chế vì các DNVVN khó đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn NH. Bên cạnh đó khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các DN lại sử dụng vốn chƣa hợp lý và hiệu quả.
Vì thế việc tìm ra giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN đang là một vấn đề bức xúc hiện nay của các NHTM. Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của các DNVVN hiện nay em đã chọn đề tài : “Giải pháp nâng cao hoạt động tín dụng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân Hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Eximbank) chi nhánh Chợ Lớn” 2.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Xem xét và nghiên cứu các phƣơng pháp để sao cho ngân hàng bán đƣợc nhiều “sản phẩm tín dụng” hơn cho khách hàng DNVVN. Đồng thời đề tài cũng đƣa ra một số giải pháp GVHD: Th.s Quách Doanh Nghiệp SVTH: Nguyễn Đăng Lân 1 Khóa luận tốt nghiệp nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với loại hình DNVVN trên phạm vi hoạt động của NH Eximbank chi nhánh Chợ Lớn.ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài chọn hoạt động tín dụng cho các DNVVN tại NH Eximbank chi nhánh Chợ Lớn trong những năm gần đây làm đối tƣợng nghiên cứu 4.PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp phân tích hoạt động kinh tế, phƣơng pháp tổng hợp thống kê… 5.KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI Đề tài gồm ba chƣơng: CHƢƠNG 1 : Hiệu quả tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ CHƢƠNG 2 : Thực trạng hiệu quả cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Eximbank CHƢƠNG 3 : Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Eximbank chi nhánh Chợ Lớn.s Quách Doanh Nghiệp SVTH: Nguyễn Đăng Lân 2 Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1 : HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Tổng quan về DNVVN 1.
Quy định về DNVVN Nhiều chuyên gia kinh tế và pháp luật của Việt Nam cho rằng khái niệm DNVVN và sau đó khái niệm DN nhỏ và cực nhỏ đƣợc du nhập từ bên ngoài vào Việt Nam. Vấn đề tiêu chí DN vừa, nhỏ và cực nhỏ là trung tâm của nhiều cuộc tranh luận về sự phát triển của khu vực này trong nhiều năm qua. Định nghĩa về DN nhỏ và vừa, DN nhỏ và cực nhỏ rõ ràng phải dựa trƣớc tiên vào quy mô DN. Thông thƣờng đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng kí, doanh thu., các tiêu chí này thay đổi theo từng quốc gia, từng chƣơng trình phát triển khác nhau.
DN nhỏ và vừa là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. DN nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào quy mô đó là DN siêu nhỏ (micro), DN nhỏ và DN vừa. Phân loại DNVVN Căn cứ vào qui mô DNVVN có thể chia thành ba loại: DN siêu nhỏ (micro): Theo tiêu chí của Nhóm NH Thế giới, DN siêu nhỏ là DN có số lƣợng lao động dƣới 10 ngƣời, DN nhỏ: DN nhỏ có số lƣợng lao động từ 10 đến dƣới 50 ngƣời, DN vừa: có từ 50 đến 300 lao động. Ở mỗi nƣớc, ngƣời ta có tiêu chí riêng để xác định DNVVN ở nƣớc mình.
Ở Việt Nam, theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, qui định số lƣợng lao động trung bình hàng năm từ 10 ngƣời trở xuống đƣợc coi là DN siêu nhỏ, từ 10 đến dƣới 200 ngƣời lao động đƣợc coi là DN nhỏ và từ 200 đến 300 ngƣời lao động thì đƣợc coi là DN vừa.s Quách Doanh Nghiệp SVTH: Nguyễn Đăng Lân 3 Khóa luận tốt nghiệp 1. Đặc điểm DNVVN DNVVN chiếm đại đa số trong tổng số DN tại các quốc gia và đóng góp lớn vào việc thực hiện các chính sách về kinh tế-xã hội. Hoạt động của DNVVN luôn gắn liền với thể chế chính sách và trình độ phát triển của quốc gia đó. Nhìn chung, các DNVVN ở Việt Nam cũng mang những đặc điểm tƣơng đồng với DNVVN ở các nƣớc đang phát triển.
Những đặc điểm đó là: Thứ nhất, DNVVN năng động, linh hoạt, dễ thích nghi với sự thay đổi của thị trường. Đây là một trong những đặc điểm ƣu việt của DNVVN. DNVVN chủ yếu hoạt động trong các lĩnh vực cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội. Với mặt hàng phong phú đa dạng, thỏa mãn đƣợc nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu sản xuất kinh doanh của các DN lớn đã giúp cho các DNVVN dễ dàng chiếm đƣợc thị trƣờng.
DNVVN luôn phải hƣớng đến thị hiếu của ngƣời tiêu dùng, vì vậy có thể nói đây là lực lƣợng phản ánh tín hiệu của thị trƣờng chính xác nhất. Mặt khác, với số vốn ít, vòng quay vốn của các DNVVN thƣờng là ngắn, các phƣơng án sản xuất kinh doanh không lâu dài nhƣ các DN lớn. Với lợi thế đó, DNVVN dễ dàng thay đổi quy mô, thay đổi sản phẩm khi có sự thay đổi của thị trƣờng. So với các DN lớn, DNVVN không gặp nhiều tổn thất khi thị trƣờng biến động, có thể nói DNVVN là những “bộ phận giảm xóc” đắc lực cho nền kinh tế.
Thứ hai, các DNVVN hiện nay đã chú trọng đổi mới công nghệ nhưng còn tương đối lạc hậu, không đồng bộ và trình độ quản lý còn yếu kém. Công nghệ tốt giúp DN tăng năng suất lao động, sản xuất ra đƣợc các sản phẩm với mức chất lƣợng phù hợp, đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng và giảm bớt chi phí sản xuất, nhờ đó tăng năng lực cạnh tranh. Ngƣợc lại, công nghệ lạc hậu và chậm đổi mới làm hạn chế khả năng sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, hạn chế năng suất và sản lƣợng, chất lƣợng sản phẩm, làm tăng chi phí sản xuất, thậm chí ảnh hƣởng tiêu cực đến môi trƣờng, đồng thời làm hạn chế năng lực cạnh tranh của DN.s Quách Doanh Nghiệp SVTH: Nguyễn Đăng Lân 4 Khóa luận tốt nghiệp Đây không chỉ là hạn chế của các DNVVN Việt Nam, mà còn là tình trạng chung tại các nƣớc đang phát triển. Bản thân DN và Nhà nƣớc đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng của việc cải tiến và đổi mới công nghệ, tuy nhiên chƣa đạt hiệu quả cao.
Trong những năm gần đây, các DNVVN của Việt Nam đã tiến hành nhập ngoại nhiều công nghệ hiện đại, nhƣng do chƣa có nhiều kinh nghiệm trong việc mua và chuyển giao công nghệ, nên hầu nhƣ các máy móc thiết bị không sử dụng đƣợc hoặc sử dụng không đúng năng suất. Thậm chí một số chủ DN do không có kinh nghiệm nên trở thành nạn nhân của những thƣơng vụ chuyển giao công nghệ, gây thiệt hại nặng nề cho bản thân DN. Mặt khác, do chi phí nhập ngoại công nghệ tƣơng đối lớn so với quy mô vốn nên các DNVVN thƣờng không đủ khả năng để đổi mới một cách đồng bộ. Nhiều DNVVN đã chọn phƣơng án mỗi kì mua một ít, rồi sau đó mới cải tiến dần dần.
Điều này đã gây ra việc dây chuyền sản xuất không thể khai thác hết công suất, sản phẩm sản xuất ra không đảm bảo chất lƣợng, không có sức cạnh tranh trên thị trƣờng… Trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý DN là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên. Nhiều chủ DN không nhận thức đƣợc tầm quan trọng của công cuộc đổi mới công nghệ, hoặc nhận thức đƣợc nhƣng không đủ nỗ lực và nhạy bén để thực hiện. Qua khảo sát, phần lớn chủ các DNVVN không đƣợc qua các trƣờng lớp đào tạo chính quy, điều này phần nào hạn chế tầm nhìn chiến lƣợc phát triển lâu dài cho DN. Trình độ và năng lực của đội ngũ quản lý DNVVN hiện đang là một vấn đề đƣợc các nƣớc rất quan tâm và chú trọng cải thiện.
Thứ ba, DNVVN góp phần giải quyết hiệu quả vấn đề lao động và việc làm, nhưng phần lớn đội ngũ lao động còn yếu kém. Khác với các DN và các tập đoàn kinh tế lớn, đội ngũ lao động của DNVVN có trình độ khá đa dạng. Từ lao động thủ công, lao động có tay nghề đến lao động có trình độ cao đều có cơ hội làm việc tại các DNVVN, trong đó phần lớn là lao động với trình độ thấp. Chính vì vậy việc quản lý và sử dụng lao động tại các DN này thƣờng không hiệu quả.s Quách Doanh Nghiệp SVTH: Nguyễn Đăng Lân 5 Khóa luận tốt nghiệp Nguyên nhân đầu tiên dẫn đến việc chất lƣợng lao động tại các DNVVN còn thấp là do đặc thù ngành nghề của DN.
Nhƣ đã nói ở trên, các DNVVN chủ yếu cung cấp các mặt hàng và dịch vụ thiết yếu cho xã hội, trong đó chủ yếu là các sản phẩm tiêu dùng và các sản phẩm truyền thống. Ngoài các ngành mới nổi nhƣ điện tử, viễn thông…thì các DNVVN chủ yếu hoạt động trong các ngành nghề quen thuộc nhƣ dệt may, thủy sản, chế biến lƣơng thực thực phẩm…Trong khâu sản xuất của những ngành này thƣờng không yêu cầu cao về trình độ lao động, chủ yếu sử dụng lao động tay chân hoặc lao động truyền thống, không qua đào tạo chính quy.