CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái quát về công ty chứng khoán 1.1 Khái niệm Thị trường chứng khoán là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản xuất tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. Thị trường tài chính là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán việc mua bán này được tiến hành ở thị trường sơ cấp khi người mua được chứng khoán lần đầu từ những người khách hàng và thị trường thứ cấp khi có sự mua đi bán lại các loại chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Do vậy, thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và trao đổi. BẠCH ĐỨC HIỀN (2008) – Giáo trình Thị trường chứng khoán – Nhà xuất bản Tài chính ) Theo điều 71 của Luật chứng khoán 2019 của Việt Nam cũng đã quy định CTCK là công ty được tổ chức theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần do UBCKNN cấp Giấy phép thành lập và hoạt động.
Đây là hai hình thức chủ yếu của các doanh nghiệp tại Việt Nam và xu hướng phát triển công ty cổ phần sẽ được phát triển hơn. Hiện giờ các nghiên cứu về chứng khoản thì đều thường định nghĩa về “Công ty chứng khoán” rằng “Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán”. Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ là vốn thực góp, tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật. Ở Việt Nam nghiệp vụ của các CTCK có quy định mức vốn pháp định cho từng nghiệp vụ như sau: Môi giới: 25 tỷ VND Tự doanh: 100 tỷ VND Bảo lãnh phát hành: 165 tỷ VND Tư vấn đầu tư: 10 tỷ VND Lưu ký.
Không quy định mức vốn pháp định 3 Có thể thấy rằng tự doanh và bảo lãnh phát hành là hai hoạt động yêu cầu vốn nhiều nhất bởi CTCK phải duy trì số lượng lớn các chứng khoán và bản thân giá của các công cụ trên thị trường vốn luôn biến động mạnh. Còn hoạt động môi giới chỉ là quản lý hộ tài khoản cho khách hàng, chính vì vậy không cần nguồn vốn lớn. Theo hình thức tổ chức của công ty Công ty hợp danh Là loại hình kinh doanh có từ hai chủ sở hữu trở lên Thành viên tham gia vào quá trình ra quyết định gọi là thành viên hợp danh. Các thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm vô hạn trước những nghĩa vụ của công ty bằng toàn bộ tài sản của mình.
Ngược lại các thành viên không ra vào quá trình quyết định gọi là thành viên góp vốn, họ chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp của mình với các nghĩa vụ nợ của công ty. Thông thường khả năng huy động vốn của công ty hợp danh bị hạn chế trong số vốn góp của các thành viên có thể đóng Với đặc điểm pháp lý như vậy, công ty hợp danh thường phù hợp với loại hình kinh doanh tư vấn đầu tư vì hoạt động này đòi hỏi nhân viên hành nghề phải có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cao. Hơn nữa do đặc thù của hoạt động tư vấn là trách nhiệm cao nên bên cạnh việc đảm bảo trách nhiệm về chất lượng tư vấn còn ràng buộc trách nhiệm về vật chất một cách vô hạn. Công ty cổ phần Công ty cổ phần là pháp nhân độc lập do các cổ đông sở hữu.
Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức, tối thiểu là 3 người và không hạn chế tối đa. Đại hội đồng cổ đông có quyền bầu Hội đồng quản trị công ty. Hội đồng này sẽ định ra các chính sách của công ty và chỉ định giám đốc cùng các chức vụ quản lý khác để điều hành công ty theo các chiến lược kinh doanh đã đề ra. Giấy chứng nhận quyền sở hữu của các cổ đông được thể hiện bằng những cổ phiếu, nó không thể hiện món nợ của công ty, mà thể hiện quyền lợi sở hữu nó đối với tài sản của công ty.
Sự tồn tại của công ty là liện tục không bị phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông. Công ty trách nhiệm hữu hạn Là một doanh nghiệp trong đó gồm từ hai thành viên trở lên cùng tham gia góp vốn, thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức. 4 Đây là loại hình đòi hỏi thành viên công ty phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Về huy động vốn cũng đơn giản và linh hoạt hơn, đồng thời đội ngũ quản lý năng động hơn không bị bỏ hẹp trong một số đối tác như công ty hợp danh.
Việc chuyển nhượng vốn góp được thực hiện ưu tiên theo thứ tự ưu tiên cho các thành viên hiện hữu của công ty trước sau đó mới đến các cá nhân tổ chức ngoài công ty. Việc tăng hay giảm số lượng thành viên cũng bị hạn chế bởi các quy định pháp luật và sự chấp thuận của các thành viên hiện hữu trong công ty. Trong ba hình thức, có thể nói công ty cổ phần có nhiều ưu điểm nhất và ngày càng phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế hiện nay. 1) Là loại hình doanh nghiệp duy nhất được phép huy động vốn bằng cổ phiếu, do đó khả năng tăng thêm vốn cho quá trình kinh doanh dễ dàng hơn.
2) Sự tồn tại của công ty là liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông. 3) Rủi ro mà cổ đông gánh chịu được hạn chế ở mức nhất định trên cơ sở số vốn góp. 4) Việc chuyển đổi quyền sở hữu được thực hiện dễ dàng thông qua việc mua bán cổ phiếu theo pháp luật quy định. 5) Hình thức tổ chức, quản lý, công bố thông tin tốt hai loại hình còn lại.
6) Với một công ty chứng khoán thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ thì loại hình công ty cổ phần là thích hợp nhất Hiện nay Việt Nam có 89 CTCK , trong đó có 79 công ty theo hình thức công ty cổ phần, còn lại 10 công ty theo hình thức công ty TNHH. Hầu hết các CTCK gtrach nhiệm hữu hạn đều được lập ra từ ngân hàng mẹ. Theo hình thức kinh doanh Công ty môi giới chứng khoán: Là công ty chuyên hoạt động trong lĩnh vực môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng. Công ty trái phiếu: Là CTCK chuyên mua bán các loại trái phiếu.
Công ty Bảo lãnh phát hành chứng khoán: Là CTCK có lĩnh vực hoạt động chủ yếu là thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh để hưởng phi hoặc chênh lệch giá. Công ty chứng khoán không tập trung: Là các CTCK chủ yếu hoạt động trên thị trường OTC và họ vai trò như một nhà tạo lập thị trường. Công ty kinh doanh chứng khoán: Là công ty chủ yếu thực hiện nghiệp vụ tự doanh, có nghĩa là tự bỏ vốn và tự chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh.3 Đặc điểm công ty chứng khoán Là tổ chức trung gian tài chính Trung gian tức là làm cầu nối giữa người cần vốn và người có vốn. Công ty tài chính với vai trò là trung gian đầu tư không chỉ là cầu nối giữa tổ chức phát hành với nhà đầu tư mà còn là cầu nối giữa các nhà đầu tư với nhau.
Lịch sử hình thành và phát triển của TTCK đã chứng minh rằng không thể thiếu các CTCK, đây là chủ thể cần thiết cho cả người phát hành, người đầu tư chứng khoán và là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của TTCK. Mặc dù không giống như dạng tài chính trực tiếp người cần vốn và người có vốn trao đổi trực tiếp với nhau tại thị trường, các trung gian tài chính là một chiếc cầu nối, nghĩa là người cần vốn và có vốn phải thông qua người thứ ba, đó chính là các trung gian tài chính. CTCK môi giới đại diện thu xếp giao dịch cho khách hàng và hưởng hoa hồng. CTCK là một tổ chức tài chính trung gian hoạt động trên TTCK – một thị trường có mức độ nhạy cảm cao và có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế.
Do vậy, CTCK thuộc loại hình kinh doanh có điều kiện, tức là để có thể tiến hành một hoặc một số các hoạt động trên thị trường chứng khoán, CTCK phải đáp ứng các điều kiện do luật pháp quy định cũng như những nguyên tắc ứng xử riêng có của ngành chứng khoán. Điều kiện này chính là những đặc điểm khác biệt giữa hoạt động của CTCK với hoạt động của các loại hình doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác Là tổ chức kinh doanh có điều kiện Thứ nhất: về cơ sở vật chất kỹ thuật, khi tiến hành đăng ký hoạt động. CTCK phải đáp ứng yêu cầu về trụ sở phù hợp cho việc kinh doanh chứng khoán. Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán là cần phải có sàn giao dịch, ở đó các nhà đầu tư tới để thực hiện giao địch mua bán chứng khoán cho mình, tiếp nhận thông tin thị trường.
Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của CTCK còn là hệ thống các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình truyền lệnh của khách hàng, thông báo kết quả giao dịch cũng như giúp khách hàng kiểm tra số dư tài khoản hoặc tìm kiếm thông tin. Thứ hai, về nhân sự, đây là lĩnh vực hoạt động có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnh hưởng tới đời sống kinh tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên của CTCK phải là người có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên về chuyên ngành ngân hàng, tài chính, thị trường chứng khoán có tư cách đạo đức nghề nghiệp và có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp. Thứ ba, về đội ngũ lãnh đạo, yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải có kiến thức chuyên môn, có đạo đức trong kinh doanh, không vi phạm pháp luật và có trình độ quản lý.