Chương 1: Cơ sở lí luận về hoạt động bán hàng và kinh nghiệm thực tiễn. Chương 2: Đặc điểm công ty và thực trạng công tác bán hàng các sản phẩm kinh tế tại Công ty cỗ phần 22, Bộ quốc phòng. Chương 3: Định hướng và một số giải pháp đẩy mạnh công tác bán hàng tại Công ty cổ phần 22, Bộ quốc phòng. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE HOAT DONG BAN HANG VA KINH NGHIEM THUC TIEN 1.1 Cơ sở lý luận của hoạt động bán hàng 1.1 Khái niệm bán hàng Thuật ngữ “bán hàng” được sử dụng rộng rãi trong kinh doanh, tùy thuộc mục tiêu nghiên cứu, cách tiếp cận, đối tượng nghiên cứu dẫn đến các quan niệm khác nhau về bán hàng.
Tại giáo trình “Quản trị doanh nghiệp thương mại” của Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế Trường Đại học kinh tế quốc đân ( của nhiều tác giả) nêu: “Bán hàng là hành vi thương mại của thương nhân”, “Bán hàng là khâu cơ bản, quan trọng của quá trình sản xuất, kinh doanh”, “Bán hàng là quá trình thực hiện các nghiệp vụ ky thuat ban hang”. (Vi Huy Duc, Vũ Huy Thông, 2018) Dù tiếp cận theo cách nào nhưng xét về bản chất, bán hàng ra đời gắn liền với nền sản xuất hàng hóa. Đặc điểm nỗi bật của nền sản xuất hàng hóa là sản phẩm sản xuất ra để trao đổi, mua bán. Lúc đầu trao đổi, mua bán mang tính giản đơn theo công thức H - H, nghĩa là hàng hóa được thực hiện dưới hình thức trao đổi hiện vật.
Đến khi tiền tệ xuất hiện làm phương tiện lưu thông, trao đổi mua bán được thực hiện qua công thức H - T - H đó chính là quá trình lưu thông hàng hóa. Vì vậy, lưu thông hàng hóa gồm hai giai đoạn: Giai đoạn H - T và giai đoạn T - H. Giai đoạn hàng hóa được chuyên từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị đó chính là bán hàng. (Vữ Huy Đức, Vũ Huy Thông, 2018) Đối với doanh nghiệp thương mại: Doanh nghiệp thương mại thực hiện quá trình T - H - T”, có nghĩa trong kinh doanh doanh nghiệp thương mại bỏ vốn tiền tệ để mua sản phẩm của những doanh nghiệp sản xuất hoặc những doanh nghiệp thương mại khác, sau đó lại bán chính những hàng hóa này cho các chủ thể kinh tế khác có nhu cầu.
Hay nói một cách khác, doanh nghiệp 10 thuong mai thuc hién hoat déng mua để thực hiện hoạt động ban, về cơ bản các hoạt động này được thực hiện trên cùng một thị trường đó là thị trường hàng tiêu ding hay thi trường tư liệu sản xuất. ( Nguyễn Thừa Lộc, Trần Văn Bảo, 2016) Đối với doanh nghiệp sản xuất: Doanh nghiệp sản xuất thực hiện quá trình T - H - H' - T’, có nghĩa trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp sản xuất bỏ vốn tiền tệ để mua sắm các yếu tô cần thiết cho quá trình sản xuất: Máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, nhân công. Sau đó tổ chức thực hiện quá trình kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm/dịch vụ theo nhu cầu của thị trường. Cuối cùng, doanh nghiệp đưa những sản phầm/dịch vụ đó bán ra thị trường.
Thị trường thực hiện hoạt động mua hoàn toàn khác với thị trường thực hiện hoạt động bán. (Ngô Kim Thanh, 2013) Sự giống nhau trong bán hàng của hai loại hình đoanh nghiệp trên là T" > T, nghĩa là tổng lượng tiền thu về từ bán hàng lớn hơn tổng lượng tiền bỏ ra để thực hiện mua hàng. Sự khác nhau trong hoạt động mua và bán của hai loại hình doanh nghiệp trên là: Doanh nghiệp thương mại thực hiện chức năng “mua để bán”, thị trường thực hiện hoạt động mua trùng với thị trường thực hiện hoạt động bán. Chênh lệch giữa giá bán với chi phí mua va chi phi phục vụ quá trình bản tạo thành lợi nhuận của doanh nghiệp.
Trong khi đó, doanh nghiệp sản xuất thực hiện hoạt động mua để phục vụ quả trình sản xuất, yếu tố vật chất mà doanh nghiệp mua vào hoàn toàn khác với yếu tố vật chất mà doanh nghiệp bán ra. Lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất phụ thuộc vào tổng hợp các nhân tô ở cả ba hoạt động “mua - sản xuât - bán”. Sự khác nhau trên được nảy sinh từ sự phát triển của phân công lao động xã hội, hình thành các loại hình doanh nghiệp chuyên môn hóa theo lĩnh vực hoạt động. Trên thực tế có những doanh nghiệp thực hiện kinh doanh tổng hợp vì vậy rất khó phân định rạch ròi sự khác nhau trên.
(Wgô Kim Thanh, 2013) ll Như vậy, bán hàng không chỉ đơn giản là quá trình chuyển quyền sở hữu hàng hoá đến khách hàng mà nó bao gồm nhiều công việc khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ bố sung cho nhau. Để tô chức tốt bán hàng doanh nghiệp không chỉ làm tốt mỗi khâu mà còn phải phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu.2 Vai trò của bán hàng Ngày nay các nhà quản trị doanh nghiệp ngày càng quan tâm chú trọng đến bán hàng. Bởi bán hàng không còn là khâu đi sau sản xuất, thực hiện khi đã có sản phẩm, mà phải các doanh nghiệp phải chủ động tiến hành trước và phải song song với sản xuất. Bán hàng là một hoạt động cơ bản quan trọng của hoạt động kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tổn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Bán hàng giúp cho hàng hóa được lưu thông, là cầu nối và mang lại lợi ích cho cả người sản xuất với người tiêu dùng. Người tiêu dùng có được giá trị sử dụng mà mình mong muốn. Người sản xuất thì đạt được mục đích của mình trong kinh doanh. Chỉ có bán được hàng, hàng hóa mới có thể chuyền từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị, vòng chu chuyền vốn kinh doanh được hoàn thành, thực hiện được lợi nhuận và tiếp tục tái mở rộng sản xuất kinh doanh.
(Vũ Huy Đức, Vũ Huy Thông, 2018) Bán hàng quyết định và chỉ phối các hoạt động nghiệp vụ khác của doanh nghiệp như nghiên cứu thị trường, tạo nguồn mua hàng, dịch vụ, dự tit. Bán hàng là khâu hoạt động có quan hệ mat thiết với khách hàng, ảnh hưởng đến niềm tin, uy tín và sự tái tạo nhu cầu. Do vậy, bán hàng là vũ khí cạnh tranh mạnh mẽ của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh. (Vũ Huy Đức, Vũ Huy Thông, 2018) Kết quả của hoạt động bán hàng phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, sự đúng đắn mục tiêu chiến lược, nỗ lực cố gắng của doanh nghiệp, 12 đồng thời thể hiện trình độ tổ chức, năng lực điều hành cũng như thế và lực của doanh nghiệp trên thương trường.
Đối với nền kinh tế, bán hàng giúp cân đối giữa cung và cầu, bình én giá và đời sống nhân dân, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Bán hàng tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường trôi trây tránh sự mất cân đối, giữ được bình ồn trong xã hội. Nội dung hoạt động bán hàng 1. Nghiên cứu thị trường “Nghiên cứu thị trường được hiểu là một quá trình thu thập, lưu trữ, xử lý và phân tích một cách có hệ thống các dữ liệu về các vấn đề liên quan đến các hoạt động marketing sản phẩm và dịch vụ nhằm đưa ra những căn cứ khoa học cho việc ra quyết định trong quản trị kinh doanh” (Trần Minh Đạo, 2013) Nghiên cứu thị trường giúp doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng, lĩnh vực kinh doanh đúng đắn và chủ động trước diễn biến của thị trường.
Nghiên cứu thị trường nhằm giải đáp những vấn đề: Loại thị trường nào có triển vọng nhất với sản phẩm của doanh nghiệp. Những sản phẩm nào có khả năng bán với khối lượng lớn nhất. Trên thị trường có những đối thủ cạnh tranh nào đang kinh doanh những sản phẩm cùng loại, khối lượng, chất lượng và giá cả của những sản phẩm đó. Tủy thuộc vào mục đích, yêu cầu nghiên cứu thị trường mà nội dung nghiên cứu khác nhau.
Nghiên cứu khái quát, nghiên cứu sơ bộ về thị trường như tổng cầu, tổng cung, xu hướng biến động giá và sự cạnh tranh để biết doanh nghiệp có thể tham gia thị trường hoặc định kỳ đánh giá về thị trường của doanh nghiệp. 13 Nghiên cứu chỉ tiết, nghiên cứu đối tượng mua, bán loại hàng hóa doanh nghiệp đang kinh doanh, cơ cấu thị trường hàng hóa và chính sách mua bán của các doanh nghiệp có nguồn hàng lớn. Nghiên cứu thị trường chỉ tiết phải trả lời được các câu hỏi: Ai mua hàng? Mua bao nhiêu? Cơ cấu của loại hàng? Mua ở đâu? Mua hàng dùng làm gì? Đối thủ cạnh tranh? Nghiên cứu thị trường thường được tiền hành theo ba bước: Bước 1: Tổ chức thu thập thông tin đầy đủ về nhu cầu các loại thị trường. Các phương pháp thu thập thông tin: Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu khái quát thị trường về quy mô, cơ cấu, xu hướng phát triển của thị trường, từ đó xác định những thị trường có triển vọng và là tiền đề để nghiên cứu cụ thể hơn.
Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường: Thu thập thông tin chủ yếu qua tiếp xúc với các đối tượng trên thị trường, thông qua quan sát, điều tra phỏng vấn: Điều tra trọng điểm, điều tra chọn mẫu, điều tra toàn bộ. Bước 2: Xử lý các thông tin Trước, trong va sau khi thu thập thông tin doanh nghiệp phải tiến hành xử lý các thông tin thu thập được. Là quá trình tông hợp, phân tích, kiểm tra dé xác định tính đúng đắn và chính xác của các thông tin riêng lẻ, loại trừ các thông tin gia tao để tìm ra lời giải đáp cho các câu hỏi về thị trường mục tiêu, dung lượng thị trường, tính cạnh tranh, giá cả, phương thức bán hàng. Nội dung chính của việc xử lý thông tin là: Xác định thái độ của khách hàng đối với sản phẩm của doanh nghiệp.
Lựa chọn các thị trường mục tiêu có khả năng phat triển hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Xác định khối lượng, danh mục sản phẩm, giả cả, chất lượng sản phẩm để bán trên thị trường. 14 Bước 3: Ra quyết định phù hợp. Kết quả của xử lý thông tin cho phép doanh nghiệp đưa ra các quyết định về phương án kinh doanh trong thời gian tới cũng như hoạt động bán hàng: Quyết định về giá cả trên từng thị trường hoặc khu vực thị trường, khách hàng lớn, trung bình và nhỏ; quyết định về khối lượng, danh mục sản phẩm, kênh phân phối, các hoạt động xúc tiến và hỗ trợ bán hàng.
Xây dựng chiến lược và kế hoạch bán hàng Chiến lược bán hàng là một trong những chiến lược quan trọng trong chiến lược kinh doanh.