CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ NGUỒN VỐN ODA 1. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC 1. Khái niệm và các hình thức ODA * Khái niệm ODA là tên viết tắt 3 chữ cái đầu của tiếng Anh “Official Development Assistance” có nghĩa là “Hỗ trợ Phát triển Chính thức” Năm 1972, lần đầu tiên Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECF) đã đưa ra khái niệm về ODA như sau “ODA là một giao dịch chính thức được thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có tính chất ưu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%” Tuy nhiên, năm 1999 theo Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng Thế giới (WB), có đưa ra khái niệm về ODA như sau: “ODA là một phần của Tài chính Phát triển chính thức (ODF) trong đó có yếu tố viện trợ không hoàn lại với cho vay ưu đãi và phải chiếm ít nhất 25% trong tổng viện trợ thì gọi là ODA” Theo chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) trong “Báo cáo tổng quan viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam - tháng 12 năm 2002” có đưa ra khái niệm về ODA như sau: “Viện trợ Phát triển chính thức (ODA) bao gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay đối với các nước đang phát triển, cụ thể là (i) do khu vực chính thức thực hiện; (ii) chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi; (iii) cung cấp các khoản ưu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại chiếm ít nhất là 25%)” 4 Ngày 04/05/2001, lần đầu tiên Nghị định 17/2001/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam về Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có đưa ra khái niệm vê ODA như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này được hiểu là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ bao gồm : (i) Chính phủ nước ngoài; (ii) các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia” Mặc dù còn có nhiều khái niệm về ODA nhưng đều thống nhất ở 4 vấn đề cơ bản sau: Hỗ trợ phát triển chính thức thể hiện: (i) mối quan hệ hợp tác phát triển mang tính: “Hỗ trợ” giữa những quốc gia này với quốc gia khác nhằm đẩy (ii) “Phát triển kinh tế - hỗ trợ thông qua con đường (iii) “Chính thức” giữa cấp Nhà nước và Nhà nước, giữa Nhà nước hoặc Chính phủ với các tổ chức liên chính phủ hoặc liên quốc gia, và mối quan hệ “Hỗ trợ phát triển chính thức này hình thành và phát triển dựa trên nền tảng một phần cho không (phần không hoàn lại hay còn gọi là thành tố hỗ trợ) kế tinh trong tổng nguồn vốn ODA hàng năm mà nước này cam kết dành cho nước khác để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế và xã hội đã định và giá trị ít nhất 25% so với tổng giá trị viện trợ”.
Từ những cách hiểu trên, có thể rút ra kết luận như sau: “Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) chính là nguồn vốn cho vay ưu đãi kết hợp với nguồn ODA cho không có ràng buộc mà quốc gia này dành cho quốc gia khác có thể là trực tiếp, có thể là gián tiếp thông qua hình thức ủy thác cho các Tổ chức quốc tế đa phương thực hiện. Tính ưu đãi của ODA thể hiện qua phần ODA cho không cộng với các ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, thời gian ân hạn, lịch trả nợ. đối với phần cho vay, và nếu đem so sánh hoặc quy đổi các ưu đãi này ra so với nguồn tín dụng thương mại thì quốc gia tiếp nhận nguồn vốn phát triển chính thức sẽ được hưởng “phần cho không” ít nhất 5 là 25% đến 100% so với toàn bộ giá trị khoản vay ưu đãi đó. • Phân loại nguồn vốn ODA: Theo thông lệ quốc tế, các khoản viện trợ có thể được cung cấp dưới nhiều hình thức khác nhau.
(1) Nếu phân theo tính chất tài trợ thì ODA gồm: viện trợ không hoàn lại, viện trợ có hoàn lại và viện trợ hỗn hợp. (2) Nếu theo điều kiện tài trợ thì ODA gồm : không ràng buộc, có ràng buộc, hỗn hợp. (4) Nếu phân theo hình thức thực hiện thì ODA gồm: hỗ trợ theo dự án, hỗ trợ phi dự án. (5) Nếu theo mục đích sử dụng thì ODA gồm hỗ trợ cơ bản và hỗ trợ kỹ thuật; Tuy nhiên, về cơ bản hiện nay ODA có 3 hình thức cung cấp như sau: ODA không hoàn lại: Là hình thức cung cấp ODA không phải hoàn lại cho nhà tài trợ.ODA không hoàn lại hay còn gọi là hỗ trợ kỹ thuật là một phần không thể tách rời của nguồn vốn ODA nói chung, chúng được dung chủ yếu cho các đầu vào hay còn gọi là “phần mềm” phục vụ phát triển tức là hỗ trợ để phát triên nguồn nhân lực và thể chế, chuyển giao tri thức, công nghệ và đầu vào mang tính kỹ thuật cao khác mà các quốc gia nhận tài trợ không có khả năng thực hiện được.
ODA không hoàn lại hay hỗ trợ kỹ thuật khác với hỗ trợ vốn để giúp các nước đang phát triển thực hiện các đầu vào còn gọi lai “phần cứng” như xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội v. ODA cho vay ưu đãi: hay còn gọi là tín dụng ưu đãi là các khoản vay mà yếu tố không hoàn lại đạt ít nhất là 25% so với tổng giá trị khoản vay. ODA hỗn hợp: Là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc các khoản vay ưu đãi được cung cấp đồng thơi với các khoản tín dụng thương mại nhưng tính chung lại yếu tố không hoàn lại phải đạt ít nhất trên 25% so với tổng giá trị của khoản vay đó. Các phương thức viện trợ 6 Theo thông lệ quốc tế thì ODA có thể được viện trợ dưới nhiều phương thức khác nhau.
Mỗi phương thức đều có một cơ cấu quản lý, qui định về ké toán, kiểm toán và các điều kiện đi kèm khác nhau. Song nhìn chung, hiện nay có một số phương thức cung cấp ODA cơ bản như sau: Viện trợ theo chương trình: Là một thuật ngữ chỉ các khoản hỗ trợ vào các lĩnh vực như đầu tư hỗ trợ cán cân thanh toán và ngân sách của Chính phủ. Theo phương thức này, có 4 loại cơ bản như sau: Hỗ trợ cán cân thanh toán: Thường có nghĩa là hỗ trợ tài chính trực tiếp (chuyển giao tiền tệ ) cho các nước đang phát triển. Nhưng đôi khi lại là hiện vật ( hỗ trợ hàng hóa hoặc hỗ trợ xuất khẩu).
Ngoại tệ hoặc hàng hóa chuyển vào nước nhận viện trợ qua hình thức hỗ trợ, cán cân thanh toán có thể được chuyển hóa thành hỗ trợ ngân sách, điều này xảy ra khi hàng hóa nhập khẩu bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của Chính phủ. Hỗ trợ ngân sách: Cũng tương tự như hỗ trợ cán cân thanh toán, tuy nhiên với loại hình này thì các điều kiện tập trung chủ yếu vào việc sử dụng vốn của nhà tài trợ đối với ngân sách Chính phủ chứ không phải là các vấn đề liên quan đến cán cân thanh toán. Chính phủ phải có trách nhiệm giải trình các báo cáo thu - chi đã qua kiểm toán. Hỗ trợ ngân sách theo ngành: Là việc cung cấp các khoản tài chính cho một ngành cụ thể, ví dụ như ngành y tế, ngành giáo dục v.kèm theo các khoản viện trợ này là các điều kiện liên quan đến kế hoạch chi tiêu của ngành và kế hoạch cải cách chính sách ngành.
Giảm nợ: Giảm nợ cũng được coi là một biện pháp hay hình thức thực hiện viện trợ. Giảm nợ là việc xóa một phần nợ nước ngoài của Chính phủ. Chính vì vậy, nó giúp cho ngân sách hiện có của Chính phủ được tang lên, bằng cách giảm nợ sẽ giúp tăng thêm nguồn lực cho Chính phủ. Viện trợ theo dự án: Là những khoản viện trợ theo các mục tiêu cụ thể.
7 Các hoạt động và chi tiêu của dự án sẽ được chi tiết hóa và thường không đòi hỏi phải kèm theo các điều kiện liên quan đến lĩnh vực thay đổi chính sách. Có 3 phương thức cơ bản sau đây mà các nhà tài trợ thường sử dụng để hỗ trợ cho các dự án phát triển: Viện trợ dự án được chuyển qua chính phủ: Theo hình thức này, chính phủ các nước tiếp nhận tài trợ phải tự chịu trách nhiệm về quản lý dự án, tự kiểm soát việc sử dụng nguồn vốn của các nhà tài trợ. Cơ chế cấp vồn này thường thấy đối với các nhà tài trợ đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Viện trợ dự án do nhà tài trợ quản lý: Trong trường hợp này, các nhà tài trợ lập đơn vị quản lý dự án đặc biệt chịu trách nhiệm thực hiện dự án và quản lý vốn của nhà tài trợ.
Vốn được giải ngân và hạch toán theo các thủ tục của các nhà tài trợ, cơ chế cấp vốn này thường thấy ở các dự án do các nhà tài trợ song phương. Viện trợ dự án được chuyển qua các Tổ chức phi Chính phủ (NGOs): Đây là một trong những hình thức đang ngày càng trở thành một hình thức hỗ trợ thông dụng của các nhà tài trợ, trong trường hợp này các nhà tài trợ có thể viện trợ cho NGOs trên cơ sở đề xuất dự án được xác định phù hợp. • Đặc điểm của vốn ODA: Nguồn vốn ODA có 4 đặc điểm sau: Một là, ODA là nguồn vốn hợp tác phát triển Từ khái niệm về ODA chúng ta đã thấy: ODA là hình thức hợp tác phát triển của Chính phủ các nước phát triển, các tổ chức quốc tế với các nước đang phát triển hoặc chậm phát triển thông qua các khoản viện trợ không hoàn lại và/hoặc các khoản cho vay với điều kiện ưu đãi. Ngoài ra, bên viện trợ thông qua các khoản cho vay ưu đãi/các khoản viện trợ không hoàn lại sẽ cung cấp cho bên được viện trợ hàng hóa, chuyển 8 giao khoa học - kỹ thuật, cung cấp dịch vụ.
Ngược lại, bên được viện trợ thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển có điều kiện bổ sung nguồn vốn còn thiếu, sử dụng vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng, đường sá, cầu cống. tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển và nâng cao đời sống nhân dân.