Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về Trọng tài thương mại. Chương 2: Thực trạng về tình hình hoạt động của Trọng tài vụ việc ở Việt Nam. Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Trọng tài vụ việc Kết luận. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm Trọng tài và Trọng tài thƣơng mại. Dưới góc độ ngữ nghĩa, theo Từ điển Tiếng Việt “Trọng tài” là người được cử, đề ra để phân xử, giải quyết những vụ tranh chấp.[39] Còn theo Từ điển Hán Việt thì “Khi hai bên tranh chấp đứng ở giữa để phân xử gọi là trọng tài”. Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp “tư” lâu đời và thậm chí ra đời trước cả Tòa án (có thông tin về sự tồn tại của Trọng tài từ thời Ai Cập, Hy Lạp cổ đại).
Trọng tài được sử dụng rộng rãi nhất trong quan hệ kinh doanh, thương mại nhưng cũng được sử dụng nhiều trong giải quyết các tranh chấp khác như: lao động, dân sự, bảo vệ người tiêu dùng, gia đình và thậm chí giải quyết các các tranh chấp giữa các quốc gia với nhà đầu tư nước ngoài. Hiện tại thì Trọng tài được khuyến khích sử dụng tại hầu hết các nước trên thế giới vì những ưu điểm của nó. Theo WTO, Trọng tài là một trong những dịch vụ thương mại giống như nhiều dịch vụ thương mại khác, tức là có yếu tố cạnh tranh và thị trường.[18] Theo pháp lệnh TTTM Việt nam 2003 Trọng tài là phương thức giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh quy định. Như vậy dù được xem xét ở góc độ nào đi nữa, Trọng tài trước hết được hiểu là một phương thức để phân xử các tranh chấp.
ở đây Trọng tài đóng vai trò người trung gian (thứ ba) để dàn xếp giải quyết mâu thuẫn một cách hợp lý và công tâm. Người thứ ba này có thể là tổ chức hoặc cá nhân nhưng nhất thiết phải được các bên tranh chấp tự do lựa chọn. Thể chế Trọng tài luôn thể hiện tính chất hai mặt đó là thỏa thuận và tài phán, tính chất hai mặt này làm nên sự khác biệt của hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác. Trong nhiều lĩnh vực của đời sống đều có thể áp dụng hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Tuy nhiên với 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những đặc điểm của Trọng tài làm cho nó đặc biệt phù hợp với các tranh chấp trong kinh doanh thương mại. Thuật ngữ “Thương mại” theo Bách khoa toàn thư mở - thương mại được hiểu là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ vv… giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng. Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ.cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó. ở Việt Nam thuật ngữ “Thương mại” được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật như: Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990.
Theo Luật Thương mại Việt Nam 1997, khái niệm “thương mại” được hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm 14 hành vi điều chỉnh các quan hệ mua bán hàng hoá và dịch vụ liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá. Đối tượng của việc mua bán hàng hoá bị giới hạn ở các động sản, chủ yếu là các máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu phục vụ sản xuất, tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua bán (Điều 5 Luật Thương mại 1997). Các bất động sản như nhà máy, công trình xây dựng (không phải là nhà ở), các quyền tài sản như cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các hành vi liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá như vận chuyển hàng, thanh toán tiền mua hàng qua hệ thống ngân hàng. không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại 1997.
Việc xác định phạm vi điều chỉnh theo diện hẹp của Luật Thương mại 1997 trên thực tế đã phát sinh nhiều vấn đề, không chỉ trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại mà còn ảnh hưởng đến việc giải quyết các tranh chấp thương mại, tiếp sau đó là việc công nhận và cho thi hành các bản án, phán quyết của Trọng tài nước ngoài. Thực tế cho thấy nhiều bản án của toà án và phán quyết của Trọng tài nước ngoài, đặc biệt là các vụ tranh chấp liên quan đến đầu tư, xây dựng. đã không được thực thi ở Việt Nam do nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại. Trong khi đó, ở các nước trên thế giới, khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng ra với một nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiếm lợi nhuận.
Chẳng hạn như, Bộ luật thương mại số 48 của Nhật Bản ngày 9/3/1899, thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt, uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng. Luật Thương mại của Philippin tuy không đưa ra các hành vi thương mại cụ thể mà quy định phạm vi điều chỉnh là các hoạt động nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ với mục đích thu lợi nhuận. Bộ luật thương mại của Thái Lan cũng đưa ra khái niệm thương mại khá rộng không chỉ bao gồm việc mua bán hàng hoá mà cả các hoạt động thuê tài sản, thuê mua tài sản, tín dụng, thế chấp, đại diện, môi giới, bảo hiểm, công ty, hợp danh. Cách hiểu khái niệm thương mại nêu trên cũng tương đồng với cách hiểu trong một số Hiệp định quan trọng của ASEAN, Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại quốc tế gồm nhiều Hiệp định cấu thành như Hiệp định GATT, GATS, TRIMs, TRIPs,.
[40] Luật Thương mại 2005 được ban hành ngày 14 /6/2005 thay thế Luật Thương mại 1997 đã cho ra đời khái niệm “ Hoạt động thương mại”. Theo đó hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Khái niệm hoạt động thương mại theo Luật thương mại 2005 của Việt Nam đã được mở rộng theo quan niệm thương mại của UNCITRAL và của WTO. Việc mở rộng này tạo cơ sở cho việc thích ứng pháp luật thương mại Việt Nam với pháp luật trong nước hiện hành và pháp luật thương mại quốc tế, đáp ứng được yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
Trọng tài - tuy là một hình thức giải quyết tranh chấp có lịch sử phát triển khá lâu dài ở nước ta (từ những năm 60), song khái niệm “Trọng tài thương mại” chỉ mới được ghi nhận năm 2003 với sự ra đời của Pháp lệnh Trọng tài thương mại. Bởi hệ thống Trọng tài trước đó là “Trọng tài kinh tế” - một cơ quan hành chính nhà nước có chức năng giải quyết các tranh chấp trong hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp nhà nước. Cùng với sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Trọng tài đã dần trở thành một tổ chức phi chính phủ có chức năng tài phán. Pháp lệnh TTTM là mốc quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật Trọng tài của Việt Nam.
Đó là nền tảng pháp lý 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cho Trọng tài hoạt động tiếp cận, hoà nhập với Trọng tài của các nước phát triển, khẳng định bản chất pháp lý và vai trò quan trọng của Trọng tài trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại. Khái niệm TTTM được thay thế cho khái niêm Trọng tài kinh tế hay Trọng tài phi chính phủ trước đây và bản chất pháp lý của khái niệm này được xác định đầy đủ trong Pháp lệnh Trọng tài Thương mại. Theo Pháp lệnh TTTM 2003 thì Trọng tài là “phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại” và hoạt động thương mại được hiểu là “Việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”. Như vậy theo quy định của Pháp lệnh thì TTTM chỉ giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực thương mại, giữa các chủ thể là cá nhân và tổ chức kinh doanh.
Tuy nhiên trong quá trình triển khai trên thực tế khái niệm này đã bộc lộ nhiều điểm bất cập với thực tế cũng như với các quy định pháp luật hiện hành như: khó phân biệt tranh chấp dân sự với tranh chấp thương mại dẫn đến phán quyết của Trọng tài dễ bị Tòa án tuyên hủy, nhiều tranh chấp không được giải quyết vì không xuất phát từ hành vi thương mại hay các bên không phải là “cá nhân, tổ chức kinh doanh”. Khắc phục hạn chế trên, Luật Trọng tài thương mại 2010 ra đời thay thế Pháp lệnh đã có cách nhìn nhận mở rộng về khái niệm này, theo đó Trọng tài thương được hiểu là “phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thoả thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này”, và mở rộng thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của TTTM không chỉ giới hạn trong lĩnh vực thương mại mà cả các tranh chấp khác mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài. Có thể nói Luật TTTM hiện hành đã xây dựng được khái niệm “Trọng tài thương mại” một cách hoàn chỉnh nhất, đáp ứng được nhu cầu thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh doanh hiện nay và tương thích với hệ thống pháp luật hiện hành của trong nước cũng như trên thế giới. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thƣơng mại.