Chương 1 của khóa luận sẽ trình bày các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đề tài: khái niệm tín dụng, phân loại tín dụng, vai trò tín dụng NHTM, khái niệm hiệu quả tín dụng và các tiêu chí đánh giá hiệu quả tín dụng NHTM. Tín dụng ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Ngân hàng có lịch sử ra đời rất lâu, 3000 năm trƣớc công nguyên. Từ nghề đổi tiền của một số thƣơng nhân dần dần hình thành nên các tổ chức nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, thanh toán… v.
hoạt động nhƣ các NHTM. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng theo xu hƣớng hội nhập quốc tế nhƣ hiện nay, các NHTM không ngừng phát triển hình thành mạng lƣới rộng khắp toàn cầu, hoạt động ngân hàng có tính hệ thống cao, đƣợc xem nhƣ một kênh chu chuyển vốn quan trọng và cung ứng dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng và phong phú tác động đáng kể đến sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng. Theo Trầm Thị Xuân Hƣơng (2013) trong “Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng thương mại”, NHTM là định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng. Theo khoản 3 Điều 4 Luật các TCTD (2010), “NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Đông (2012), tín dụng NHTM là quan hệ cấp tín dụng xảy ra khi khách hàng (bao gồm các tổ chức và cá nhân) có nhu cầu về việc sử dụng vốn từ phía NHTM, dựa trên thỏa thuận với khách hàng trong một quãng thời gian nhất định mà NHTM cấp hay nhƣợng quyền sử dụng vốn. Bên cạnh đó, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. 22 Luật các TCTD (2010), “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Tóm lại, tín dụng NHTM là quan hệ tín dụng mà NHTM đảm nhiệm vị trí trung gian thông qua việc huy động vốn và cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên nguyên tắc có hoàn trả bao gồm cả vốn gốc và lãi theo thời hạn nhất định.
Phân loại tín dụng NHTM Phân loại theo thời hạn tín dụng - Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn tối đa 1 năm, khoản tín dụng này có chức năng huy động và bổ sung sự thâm hụt vốn lƣu động của doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu cá nhân. - Tín dụng trung hạn: Thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm, khoản tín dụng này có chức năng đầu tƣ vào tài sản cố định, mở rộng quy mô sản xuất nhỏ với mục tiêu thu hồi vốn nhanh. - Tín dụng dài hạn: Thời hạn trên 5 năm, khoản tín dụng này có chức năng đầu tƣ, nâng cao, phát triển cơ sở hạ tầng dài hạn nhƣ bất động sản. Phân loại theo phương thức cấp tín dụng - Cho vay: NHTM cấp tín dụng cho khách hàng theo từng loại hình nhƣ: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tƣ, cho vay hợp vốn (đồng tài trợ), cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho vay qua thẻ tín dụng, theo hạn mức thấu chi, … - Chiết khấu: Khách hàng nhƣợng quyền sở hữu những giấy tờ có giá chƣa đến hạn thanh toán cho NHTM đổi lấy một khoản tiền tƣơng ứng giá trị, sau khi đã trừ đi các khoản phí nhất định.
- Bảo lãnh: NHTM thay khách hàng đứng ra dùng nguồn vốn để thực hiện nghĩa vụ tài chính cho nhu cầu của khách hàng. Đồng thời, khách hàng phải có nghĩa vụ hoàn 23 trả khoản trả thay của NHTM và kèm theo phí dựa trên hợp đồng đƣợc thỏa thuận trong thời hạn nhất định. - Cho thuê tài chính: Là việc NHTM cho khách hàng thuê tài sản thuộc sở hữu của NHTM thông qua thỏa thuận ký kết với khách hàng về các điều kiện thanh toán và trong một thời hạn nhất định. Phân loại theo mức độ tín nhiệm - Tín dụng có bảo đảm: Khách hàng sử dụng tài sản của khách hàng hoặc của bên bảo lãnh để đảm bảo khoản vay của mình, khi không thực hiện đƣợc nghĩa vụ trả nợ cho NHTM, tài sản đảm bảo đó sẽ thuộc sở hữu của NHTM và đƣợc xử lý nhằm thu hồi vốn và lãi.
- Tín dụng không có bảo đảm: Loại tín dụng này là việc NHTM cho vay tín chấp dựa trên uy tín của khách hàng. Với điều kiện, khách hàng phải có tài chính rõ ràng, quản lý thu chi hiệu quả, điểm tín dụng phải cao và không có tình trạng nợ xấu. Phân loại theo mục đích - Tín dụng nông nghiệp: NHTM cấp tín dụng phục vụ các nhu cầu về hoạt động sản xuất kinh doanh trong trồng trọt và chăn nuôi. - Tín dụng công nghiệp: NHTM cấp tín dụng phục vụ cho mục đích kinh doanh của các doanh nghiệp lớn và nhỏ để thúc đẩy phát triển nền kinh tế.
- Tín dụng thương mai dịch vụ: NHTM cấp tín dụng nhằm phục vụ sản xuất và lƣu thông hàng hóa, qua đó thu lợi nhuận. Vai trò của tín dụng NHTM Đối với ngân hàng thương mại Mặc dù, thị trƣờng tín dụng nhiều biến động, các NHTM thay đổi nhiều phƣơng pháp và chính sách kinh doanh khác nhau song bản chất của tín dụng vẫn luôn là điều tất yếu mà hầu hết các NHTM đều đặc biệt quan tâm, bởi bản chất của tín dụng ngân hàng có vai trò nòng cốt trong việc mang lại nguồn thu nhập chính. 24 Ngoài ra, tín dụng của NHTM đạt hiệu quả còn có vai trò quan trọng trong việc mở rộng quy mô ngân hàng, phát triển mạng lƣới để tối ƣu hóa lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh trƣớc bối cảnh cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng đang có xu hƣớng tăng cao. Đối với nền kinh tế Trong nền kinh tế thị trƣờng, NHTM đóng vai trò cầu nối trung gian vừa là ngƣời đi vay nhờ vào việc huy động vốn theo dạng tiền gửi của khách hàng, vừa là ngƣời cho vay thông qua việc cấp tín dụng dƣới các hình thức cho vay khác nhau và NHTM thu lợi nhuận từ các khoản vay.
Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ để điều hòa dòng vốn và cân bằng việc thừa vốn và thiếu vốn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng nhƣ lợi ích kinh tế mà ngân hàng đạt đƣợc từ việc cấp tín dụng. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn đáp ứng nhu cầu nguồn vốn ban đầu cho các hoạt động xuất nhập khẩu, sản xuất kinh doanh, thƣơng mại dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp để thúc đẩy nền kinh tế trong nƣớc và ngoài nƣớc phát triển. Hiệu quả tín dụng của NHTM 1. Khái niệm Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhƣ Thủy (2015), “hiệu quả dƣới góc độ kinh doanh là sự tƣơng quan, so sánh giữa cái đạt đƣợc (kết quả) với cái đặt ra (mục tiêu) hoặc cái bỏ ra (chi phí)”.
Nguyễn Thị Nhƣ Thủy (2015) cũng cho rằng “hiệu quả tín dụng của NHTM là kết quả so sánh giữa lợi ích mà NHTM nhận đƣợc từ hoạt động tín dụng và chi phi mà NHTM phải bỏ ra để thực hiện hoạt động tín dụng”. Tóm lại, hiệu quả tín dụng của NHTM là một trong những biểu hiện nói lên sự hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông qua hoạt động tín dụng. Để đánh giá một NHTM hoạt động tín dụng có hiệu quả hay không, dựa vào các chỉ tiêu 25 đánh giá liên quan đến nhiều yếu tố trong đó kết quả hoạt động kinh doanh và nợ quá hạn đƣợc xem là hai yếu tố thiết yếu cần đƣợc quan tâm nhiều nhất. Trong môi trƣờng cạnh tranh khốc liệt nhƣ lĩnh vực ngân hàng, hiệu quả tín dụng là điều kiện để các NHTM tồn tại và phát triển.
Điều đó đƣợc phản ánh qua quy trình hoạt động của NHTM để đáp ứng đƣợc sự biến đổi của thị trƣờng, thích nghi với các nhân tố bên ngoài. Đôi khi, hiệu quả tín dụng còn là thƣớc đo để đánh giá quy mô ngân hàng và chất lƣợng tín dụng. Bởi hiệu quả tín dụng tỷ lệ thuận với sự phát triển của NHTM, đồng thời hiệu quả tín dụng còn thể hiện đƣợc vị thế của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng của NHTM Chỉ tiêu về hệ số lợi nhuận (%) Hệ số lợi nhuận = x 100 Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), [tr.358], chỉ tiêu này phản ánh lợi nhuận mang lại từ hoạt động tín dụng, chỉ tiêu này càng cao càng thể hiện lợi nhuận thu đƣợc từ hoạt động cho vay càng hiệu quả.
Qua đó, thấy đƣợc hiệu quả tín dụng của ngân hàng cũng nhƣ trình độ quản lý điều hành công tác tín dụng. Ngoài ra, chỉ tiêu này còn là điều kiện cần thiết để ngân hàng phát triển và mở rộng kinh doanh. Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên chi phí (%) Tỷ suất lợi nhuận = x 100 Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), [tr.374], chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận phản ánh hiệu suất tài chính của ngân hàng trong hoạt động tín dụng, bên cạnh đó còn đánh giá khả năng quản lý tín dụng của ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao càng chứng tỏ lợi nhuận thu về từ hoạt động tín dụng càng cao, càng tăng hiệu quả tín dụng.
Nếu chỉ tiêu này 26 âm thì ngân hàng đang hoạt động tín dụng thiếu hiệu quả, từ đó thấy đƣợc công tác quản lý tín dụng của ngân hàng còn nhiều bất cập, không những dễ xảy ra tình trạng nợ quá hạn mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro tín dụng. Chỉ tiêu dư nợ trên vốn huy động (%) DN/VHĐ = x 100 Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), [tr.359], chỉ tiêu này phản ánh ngân hàng cho vay đƣợc bao nhiêu so với nguồn vốn huy động của ngân hàng, chỉ tiêu này còn cho thấy ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn huy động để tạo nên lợi nhuận. Nói cách khác, đây cũng là một trong các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng, chỉ tiêu này lớn thì ngân hàng càng tận dụng tối đa nguồn vốn huy động, ngƣợc lại nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 cho thấy ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động chƣa hiệu quả, thất thoát một phần lợi nhuận. Chỉ tiêu hệ số thu nợ (%) Hệ số thu nợ = x 100 Theo Thái Văn Đại (2005), [tr.