phần mở đầu, kết luận và danh mục các bảng biểu, tài liệu tham khảo, danh mục phụ lục thì kết cấu của luận văn gồm 3 Chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh 7 TP.HCM Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần Công Thƣơng Việt Nam - Chi nhánh 7 TP.HCM 6 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Định nghĩa tín dụng ngân hàng Tín dụng ra đời, tồn tại xuất phát từ nhu cầu khách quan và thực tế nhằm giải quyết hiện tƣợng thừa vốn ở nơi này, nhƣng lại thiếu vốn ở nơi khác. Đồng thời, tín dụng đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau: Đầu tiên, thuật ngữ “Tín dụng“ có nguồn gốc từ tiếng Latinh là Creditium: có nghĩa là sự tin tƣởng, nuôi dƣỡng lòng tin, tín nhiệm, hẹn trả. Khái niệm tín dụng biểu hiện qua 03 mặt cơ bản nhƣ sau: Sự chuyển giao quyền sử dụng trên cơ sở “niềm tin“ và có thời hạn.
Là sự chuyển giao quyền sử dụng giá trị từ ngƣời sở hữu này qua ngƣời khác sử dụng. Đến thời hạn hoàn trả lại giá trị chuyển nhƣợng, ngƣời nhận chuyển nhƣợng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện giá trị đã nhân ban đầu kèm theo một phần chi phí phát sinh. Căn cứ mối quan hệ của chủ thể tín dụng thì tín dụng đƣợc chia thành 03 nhóm, gồm: tín dụng ngân hàng, tín dụng thƣơng mại và tín dụng Nhà nƣớc. Theo nghiên cứu của Lý Hoàng Ánh, Nguyễn Đăng Dờn (2014), Giáo trình thẩm định tín dụng, trang 26 thì tín dụng ngân hàng đƣợc khái niệm nhƣ sau: “Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng với công ty, tổ chức kinh tế, các tổ chức và cá nhân, được thực hiện dưới hình thức ngân hàng đứng ra huy động vốn bằng tiền và cho vay (cấp tín dụng) đối với các đối tượng nói trên“.2 Định nghĩa tín dụng cá nhân 1.1 Khái niệm khách hàng cá nhân Là cá nhân, hộ gia đình trong độ tuổi lao động có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam, làm việc trong doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế hoặc tự doanh (hoạt động sản xuất, kinh doanh theo giấy đăng ký kinh doanh đƣợc 7 cơ quan có thẩm quyền cấp phép) và có nhu cầu để sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng cung cấp.2 Định nghĩa tín dụng cá nhân Căn cứ theo khái niệm “tín dụng ngân hàng“ và “KHCN“ thì TDCN là sự chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng vốn từ ngân hàng sang khách hàng cá nhân, thỏa thuận để KHCN sử dụng vốn nhằm vào mục đích phục vụ đời sống hoặc sản xuất kinh doanh, sự chuyển nhƣợng này có thời hạn, chi phí, theo sự thỏa thuận giữa ngân hàng – KHCN và phải hoàn trả lại vốn gốc và lãi khi đến hạn.3 Đặc điểm của tín dụng cá nhân Quy mô khoản vay cá nhân nhỏ, số lƣợng các khoản vay lớn Với sự phát triển của kinh tế - xã hội và sự phát triển từ lâu của TDCN trên thế giới, TDCN đã thu hút đƣợc số lƣợng lớn khách hàng và luôn có tiềm năng mở rộng lớn hơn.
Cấp tín dụng cho các khoản vay cá nhân nhìn chung là với số tiền nhỏ hơn cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Quy mô của các khoản vay thƣờng nhỏ vì đa số khách hàng có nhu cầu mua sắm, tiêu dùng phục vụ nhu cầu đời sống cá nhân, họ thƣờng có dòng tiền tích lũy từ trƣớc và chỉ vay để bổ sung phần thiếu hụt tạm thời hay bù đắp lại phần tiền đã ứng ra. Mức cấp của khoản vay thƣờng dựa trên mục đích của khách hàng, xác định dựa trên giá trị của những hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng cho cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của cá nhân hay để bổ sung nguồn vốn kinh doanh cho các hộ gia đình có đăng ký kinh doanh, vì thế giá trị các khoản vay thƣờng nhỏ. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng kiểm soát mức cấp tín dụng này thông qua các điều kiện cụ thể nhƣ mục đích sử dụng khoản vay phải đáp ứng quy định pháp luật, yêu cầu tín chấp, giá trị TSBĐ và khả năng tài chính để hoàn trả cho khoản vay,… Tuy nhiên, các khoản vay TDCN có số lƣợng rất lớn vì bên cạnh sự phát triển của kinh tế - xã hội cũng nhƣ chất lƣợng cuộc sống và trình độ dân trí ngày càng cao, ngƣời dân có xu hƣớng cải thiện và nâng cao mức sống nên sẽ tăng nhu cầu vay vốn.
Và sự phát triển của hệ thống ngân hàng, liên tục phát triển các sản phẩm dịch vụ, sản phẩm tín dụng hấp dẫn, nhắm vào trúng tâm lý, nhu cầu phục vụ đời 8 sống của ngƣời dân nhƣ tiêu dùng trƣớc trả sau. Do đó, số lƣợng ngƣời có nhu cầu vay ngày càng tăng nhiều hơn. Rủi ro trong TDCN cao dẫn đến lãi suất cho vay cao, tạo khả năng sinh lời cao TDCN luôn tồn tại rủi ro vỡ nợ cao hơn so với cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, tuy nhiên, mức độ thiệt hại lại thấp hơn so với doanh nghiệp do dƣ nợ vay của cá nhân thƣờng thấp hơn. Rủi ro vỡ nợ xảy ra khi khách hàng vay không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Rủi ro khách quan: Khả năng hoàn trả nợ vay thƣờng không đƣợc đảm bảo chắc chắn về thời gian cũng nhƣ giá trị hoàn trả, vì khả năng trả nợ của khách hàng phụ thuộc vào tình hình tài chính – thu nhập của khách hàng, tình hình tài chính – thu nhập của cá nhân và hộ gia đình thƣờng không có tính ổn định, có chịu ảnh hƣởng trực tiếp từ sức khỏe, hiệu quả công việc hay tình hình kinh tế, thiên tai. Rủi ro chủ quan: Việc thu thập thông tin pháp lý đối với KHCN thƣờng không đầy đủ và tính chính xác chƣa cao, dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng. Mặt khác, đối với các khoản vay cá nhân, ngân hàng thƣờng tốn nhiều công sức và chi phí hơn do số lƣợng khách hàng nhiều nhƣng quy mô nhu cầu vốn lại nhỏ; và việc chỉ tiêu tín dụng dành cho các cán bộ ngân hàng và vì lợi ích cá nhân đã ảnh hƣởng đến đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với khách hàng gây ra nhiều tổn thất lớn cho ngân hàng. Và rủi ro này càng cao hơn khi vay không có TSBĐ.
Hơn nữa, luôn tồn tại nhóm khách hàng có hành vi lừa đảo, thiếu trung thực trong cung cấp thông tin, không có thiện chí trả nợ làm ảnh hƣởng đến hoạt động cho vay và thu nợ của ngân hàng. Vì vậy, để bù đắp chi phí và giảm thiểu rủi ro, các ngân hàng thƣờng áp mức lãi suất cho TDCN cao hơn so với các loại hình tín dụng khác. Ngân hàng có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi đối với các khoản cho vay KHCN (Đoàn Thanh Hà và Hoàng Thị Thanh Hằng, 2013, trang 191). 9 Nhu cầu TDCN thƣờng theo chu kỳ kinh tế, ngoài ra còn phụ thuộc vào các yếu tố thu nhập, trình độ học vấn ngƣời vay.
Mức thu nhập và trình độ học vấn có tác động lớn đến nhu cầu tiêu dùng và giá trị của các khoản vay. Thu nhập, trình độ học vấn và tiêu dùng có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau. Ngƣời có thu nhập và trình độ học vấn cao mong muốn một cuộc sống đầy đủ hơn về vật chất, tinh thần và càng có nhiều nhu cầu sử dụng các hàng hóa, dịch vụ cao cấp hơn, do đó, họ thƣờng có nhu cầu vay những số tiền lớn. Hơn nữa, do có khả năng hoàn trả nợ vay cao, những ngƣời có thu nhập và trình độ học vấn cao thƣờng đƣợc ngân hàng cấp những khoản vay giá trị lớn mà không cần tài sản đảm bảo.
Ngƣợc lại, ngƣời có thu nhập và trình độ học vấn thấp thƣờng tìm đến các khoản vay để chi tiêu cho các nhu cầu cơ bản của cuộc sống khi thu nhập hiện tại không đảm bảo khả năng thanh toán. Bên cạnh đó, nhu cầu vay vốn của KHCN chịu tác động mạnh và phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế. Trong thời kỳ kinh tế tăng trƣởng, ngƣời dân lạc quan về tƣơng lai, kỳ vọng về việc gia tăng thu thu nhập, khi đó, nhu cầu mua sắm, hƣởng thụ cuộc sống tăng cao. Ngƣợc lại, khi kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng cao, sản xuất kinh doanh đình trệ, ngƣời dân sẽ hạn chế tiêu dùng, và có xu hƣớng tích lũy cho tƣơng lai.3 Lợi ích của tín dụng cá nhân Đối với khách hàng: TDCN đáp ứng đƣợc nhu cầu vốn cho khách hàng, từ đó giúp họ thỏa mãn đƣợc các nhu cầu cũng nhƣ góp phần nâng cao chất lƣợng cuộc sống.
Đối với ngân hàng: Với số lƣợng khoản vay TDCN rất lớn và ngày càng nhiều, thuận lợi cho việc mở rộng thêm hoạt động của ngân hàng thông qua việc huy động vốn, cho vay kèm bán chéo các sản phẩm dịch vụ nhƣ thẻ thanh toán, dịch vụ online (internet banking), chuyển tiền,… Nhờ đó nâng cao thêm lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro của ngân hàng. Và KHCN cũng là nền tảng khách hàng chính cho các sản phẩm dịch vụ phi tín dụng, và thƣờng họ ban đầu cũng đến với ngân hàng thông qua các hoạt động huy động và cho vay. Lợi nhuận từ phí dịch vụ cũng là điều các ngân hàng rất quan tâm và đƣợc đánh giá rất cao vì nó đƣợc bán kèm theo 1 các khoản TDCN và nó có rủi ro thấp. Đối với nền kinh tế và xã hội: Thông qua việc tài trợ tài chính cho KHCN, hoạt động TDCN đã góp phần kích thích tiêu dùng, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn hay thúc đẩy mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng lƣu thông hàng hóa để đáp ứng nhu cầu ngày càng nhiều của khách hàng.
TDCN là một kênh tín dụng vô cùng hiệu quả, giúp khai thác và sử dụng triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội, góp phần lƣu thông tiền tệ, góp phần thực hiện chủ trƣơng của Chính phủ là hạn chế dùng tiền mặt và tiết kiệm chi phí thời gian, tạo ra kênh tín dụng an toàn, hiệu quả, góp phần giúp nhà nƣớc xóa bỏ hình thức cho vay nặng lãi và các tệ nạn tiêu cực của xã hội.4 Các sản phẩm tín dụng cá nhân chủ yếu 1.