phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, sơ đồ bảng biểu, ký hiệu chữ viết tắt, luận văn được kết cấu 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về TTNSH của Sở Tài chính tỉnh Lào Cai. Chƣơng 2: Thực trạng TT tài chính NSH của Sở Tài chính tỉnh Lào Cai. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện TTNSH của Sở Tài chính tỉnh Lào Cai. 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TTNS HUYỆN CỦA SỞ TÀI CHÍNH 1.
NSH trong hệ thống NS nhà nƣớc 1. Khái niệm NSH Sự tồn tại và phát triển của các thể chế chính trị, trước hết đều phải có những nguồn lực tài chính nhất định nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ, cũng như các mục tiêu và định hướng của Nhà nước. Nguồn lực tài chính đó được gọi là NSNN và NSNN là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Để củng cố và duy trì quyề n lực chiń h tri ,̣ trong lịch sử Nhà nước đã sử du ̣ng ngân sách như mô ̣t công cu ̣ hữu hiê ̣u, gắ n chă ̣t với bản chấ t của Nhà nước , thể hiê ̣n ở việc NSNN phục vụ cho những giai cấ p thố ng tri ̣xã hô ̣i và thể hiê ̣n quyề n lực của giai cấ p thố ng tri ̣đố i với các giai cấp khác.
“NS Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước ” (Quốc hội, 2015). NS nhà nước bao gồm NS trung ương và NS địa phương. NS địa phương là NS của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân theo quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, bao gồm: NS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là NS tỉnh) bao gồm NS cấp tỉnh và NS các huyện, thành phố thuộc tỉnh. NSH, quận, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là NSH) bao gồm NS cấp huyện và NS các xã, phường thị trấn.
Trong phạm vi luận văn này, NSH bao gồm: NS của chính quyền cấp huyện và tổng hợp NS của chính quyền cấp xã do huyện quản lý. NS cấp huyện được hiểu là tổng hợp thu, chi NS và quy trình NS cấp huyện. NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Mối quan hệ của NSH với các cấp NS khác trong hệ thống NS nhà nước Hệ thống NSNN là tổng thể các cấp NS gắn bó hữu cơ với nhau, có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của từng cấp NS.
Cơ cấu NSNN được mô tả theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Cơ cấu hệ thống NS Nhà Nƣớc Nguồn trích dẫn từ Giáo trình Quản lý Tài chính công của Học viện Tài chính (2010) NS cấp huyện thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện; đó là mối quan hệ giữa NS với các tổ chức, cá nhân trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện. Chính quyền cấp huyện là chính quyền trung gian, nối tỉnh với xã, phường, thị trấn. NS cấp huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển KT - XH trên địa bàn huyện.
Do đó chính quyền cấp huyện không chỉ đơn thuần thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh mà còn có những định hướng riêng phù hợp với tình hình thực tế của huyện trong khuôn khổ pháp luật. Do vậy, cấp huyện cần có NS riêng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, nó là công cụ quan trọng của chính quyền cấp 10 huyện trong việc ổn định và phát triển KT - XH trên địa bàn. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa nguồn thu và nhiệm vụ chi NS cấp huyện với NS cấp tỉnh và NS cấp xã được thực hiện theo phân cấp trong thời kỳ ổn định NS. NSH bao gồm NS cấp huyện và NS cấp xã.
Nội dung NSH Nội dung của NSH bao gồm: Thu, chi NSH; quy trình NSH: 1. Thu, chi NSH Là quá trình tạo lập, hình thành NSH, đóng vai trò quan trọng, quyết định đến việc chi NSH. Để đảm bảo nguồn thu cho NS, cần phải có chính sách thu hợp lý hiệu quả, tập hợp các biện pháp, chủ trương nhằm huy động nguồn thu vào cho NS. Về nguồn thu, NSH bao gồm các loại chính sau: Thứ nhất, các khoản thu phân chia giữa NS tỉnh, huyện và xã, phường, thị trấn.
Theo quy định, các khoản thu này bao gồm: Thuế tiêu thụ đặc biệt là khoản thuế gián thu, chỉ thu đối với một số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà Nhà nước có chính sách định hướng tiêu dùng, thường áp dụng thuế suất cao nhằm điều tiết thu nhập của những cá nhân tiêu dùng các hàng hoá dịch vụ đặc biệt (trừ mặt hàng bia và xổ số kiến thiết) thu từ các DNNN; các DNNN đã cổ phần hoá; các DN có vốn đầu tư nước ngoài. Thuế tài nguyên (kể cả tài nguyên rừng). Thuế thu nhập cá nhân đối với những người có thu nhập cao. Thứ hai, các khoản thu NSH hưởng 100% là thuế môn bài từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ sản xuất kinh doanh ngoài quốc doanh, các khoản thu phí, lệ phí từ hoạt động do các cơ quan cấp huyện quản lý, thu sự nghiệp, tiền cho thuê mặt đất, mặt nước, thu từ bán thanh lý tài sản do cấp huyện quản lý, thu phạt, thu khác NSH.
Thứ ba, thu bổ sung từ NS tỉnh: Bổ sung cân đối để chi thường xuyên và bổ sung có mục tiêu để chi cho những mục tiêu cụ thể. Thứ tư, thu kết dư NSH: Là chênh lệch giữa tổng số thu NS địa phương lớn hơn tổng số chi NS địa phương. Căn cứ nghị quyết phê chuẩn quyết toán của HĐND cấp huyện để xử lý kết dư NSH, cơ quan tài chính có văn bản gửi KBNN 11 đồng cấp để làm thủ tục hạch toán vào thu NS năm sau theo chế độ quy định. Thứ năm, thu chuyển nguồn NSH: Là khoản thu từ các khoản chi chuyển nguồn: là việc chuyển nguồn kinh phí năm trước sang năm sau để thực hiện các khoản chi đã được bố trí trong dự toán năm trước hoặc dự toán bổ sung nhưng đến hết thời gian chỉnh lý chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong được cơ quan có thẩm quyền cho tiếp tục thực hiện chi vào NS năm sau và được hạch toán thu chuyển nguồn NS năm trước sang năm sau.
Chi NSH: Là quá trình sử dụng NS, nó ngược lại hoàn toàn với quá trình thu nhưng lại chịu sự điều phối của quá trình thu. Chi NSH là việc nhà nước cấp huyện phân phối và sử dụng quỹ NS nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để duy trì sự hoạt động và thực hiện các chức năng của Nhà nước, đáp ứng nhu cầu đời sống kinh tế, xã hội theo các nguyên tắc nhất định. Như vậy, phạm vi chi NSH rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng, nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy nhà nước chính quyền cấp huyện, tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hóa, xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng. Về khoản chi NSH bao gồm các khoản chi chủ yếu sau: Một là, chi đầu tư phát triển: chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT - XH không có khả năng thu hồi vốn do UBND tỉnh phân cấp cho huyện quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn huyện.
Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật. Hai là, chi thường xuyên trong các lĩnh vực chủ yếu sau: chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề; sự nghiệp y tế; sự nghiệp văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao; phát thanh, phát lại truyền hình; sự nghiệp môi trường, các sự nghiệp khác do huyện quản lý; chi đảm bảo xã hội; chi phục vụ công tác an ninh, quốc phòng và chi quản lý Nhà nước của các cơ quan hành chính, chính trị và các tổ chức chính trị - xã hội thuộc huyện. Ba là, chi bổ sung cho NS cấp dưới: bổ sung cân đối chi thường xuyên NS cấp xã và chi bổ sung có mục tiêu để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và chi bổ sung mục tiêu phục vụ mục tiêu xã hội theo quy định. 12 Bốn là, chi chuyển nguồn NSH: là việc chuyển nguồn kinh phí năm trước sang năm sau để thực hiện các khoản chi đã được bố trí trong dự toán năm trước hoặc dự toán bổ sung nhưng đến hết thời gian chỉnh lý chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong được cơ quan có thẩm quyền cho tiếp tục thực hiện chi vào NS năm sau.
Chu trình NSH Bước thứ nhất: Lập dự toán NSH: Lập dự toán là khâu đầu tiên của một chu trình NS có vai trò quan trọng: Giúp chính quyền cấp huyện đánh giá đúng khả năng và nhu cầu địa của phương, từ đó khai thác các ưu thế, thuận lợi, khắc phục các khó khăn, trở ngại. Giúp chính quyền cấp huyện chủ động trong điều hành NS. Dự toán NS là cơ sở để tổ chức thực hiện NS. Hàng năm, trên cơ sở hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh, sở tài chính, phòng tài chính - KH xem xét dự toán NS của các đơn vị dự toán NSH (thành phố); dự toán thu do chi cục thuế và chi cục hải quan (nếu có) lập; dự toán NS của các xã, phường, thị trấn để tổng hợp và lập dự toán thu NS nhà nước trên địa bàn, dự toán thu - chi NS địa phương, đồng thời lập dự toán chi Chương trình mục tiêu quốc gia, dự toán chi các khoản kinh phí ủy quyền báo cáo ủy ban nhân dân huyện (thành phố) gửi sở tài chính, sở KH và đầu tư, cục thuế (phần dự toán thu nội địa), cục hải quan (phần dự toán thu từ hoạt động xuất nhập khẩu), các cơ quan quản lý chương trình mục tiêu quốc gia (phần dự toán chi chương trình mục tiêu quốc gia), sở giáo dục và đào tạo (phần dự toán chi sự nghiệp giáo dục), sở khoa học và công nghệ (phần dự toán chi sự nghiệp khoa học công nghệ) chậm nhất vào ngày 20 tháng 6 năm trước.