phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp Chƣơng 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần xây dựng số 3 Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần xây dựng số 3 3 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, đất nƣớc đã chuyển mình thay đổi từ giai đoạn tem phiếu tự cung tự cấp qua giai đoạn kinh tế thị trƣờng, nền kinh tế không ngừng phát triển, đời sống ngƣời dân, ngƣời lao động ngày càng đƣợc nâng cao. Để hòa nhịp vào sự phát triển của nền kinh tế đất nƣớc, hoạt động của ngành xây dựng cũng có nhiều phát triển vƣợt bậc về cả số lƣợng và cả chất lƣợng.
Rất nhiều doanh nghiệp trong ngành xây dựng đƣợc thành lập mới. Để có thể tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh quyết liệt của nền kinh tế thị trƣờng thì hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp luôn luôn là sự lựa chọn hàng đầu cho lợi thế cạnh tranh bền vững với hầu hết mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Để thực hiện luận văn tác giả sử dụng nhiều nguồn tài liệu, đề tài liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp, quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ, công tác đào tạo nâng cao công tác quản lý tài chính nguồn nhân lực và cán bộ, v. Về giáo trình, có nhiều giáo trình về nâng cao, phân tích hiệu quả sử dụng vốn của các trƣờng đại học nhƣ: Đại học thƣơng mại, đại học kinh tế Đà Nẵng, đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội.
Các giáo trình này cung cấp những khái niệm, kiến thức cơ bản về vốn, phát triển vốn, hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh. Về sách tham khảo, tác giả đã tham khảo các đề tài nghiên cứu về công tác quản lý, hiệu quả sử dụng vốn để tìm hiểu và làm rõ hơn các vấn đề lý luận cơ bản, phƣơng pháp nghiên cứu, nhƣ các đề tài sau: - Trong cuốn sách “Hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ” (Đàm Văn Huệ, 2010), tác giả trình bày các vấn đề giảm các nguồn chi phí để tăng lợi nhuận, tạo hiệu quả lợi nhuận tốt trong kinh doanh. 4 - Trong đề tài nghiên cứu “Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tƣ xây dựng cơ bản ở Việt Nam” (Nguyễn Ngọc Định, 2011), tác giả nói về nâng cao năng lực thi công xây dựng để nhằm tăng doanh thu với yêu cầu đảm bảo tốt độ tăng của lợi nhuận phải lớn tốc độ tăng của vốn để đem đến hiệu quả sử dụng vốn ở mức cao nhất để có lợi nhuận trên đồng vốn cao nhất. - Trong đề tài nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông ở Việt Nam” (Cao Văn Kế, 2012), tác giả nêu lên những vấn đề trong công tác thi công xử lý hạn chế xác suất rủi ro của công trình, nâng cao trình độ giám sát để hạn chế chi phí.
- Trong đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế tạo lập và sử dụng vốn của các tổng công ty mạnh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” (Nguyễn Đại Phong, 2004) tác giả đề cập đến hai nội dung quan trọng là cơ chế tạo lập và sử dụng vốn với ý nghĩa nhƣ một trong những nội dung quan trọng trong quản lý vốn của doanh nghiệp. Tác giả cho rằng các tổng công ty chƣa có một chiến lƣợc tạo vốn hiệu quả phục vụ cho chiến lƣợc phát triển kinh doanh, chƣa linh hoạt và chủ động. Tƣ tƣởng ỷ lại vào Nhà nƣớc từ thời bao cấp vẫn tồn tại. Một số lãnh đạo chủ chốt của các tổng công ty chƣa đƣợc trang bị đầy đủ kiến thức về kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, thiếu kỹ năng của nhà quản lý doanh nghiệp hiện đại, lúng túng khi triển khai các chủ trƣơng đổi mới quản lý doanh nghiệp của Nhà nƣớc.
Một số phƣơng án đầu tƣ còn chạy theo phong trào, không tính đến hiệu quả. - Trong cuốn sách nghiên cứu về hiệu quả doanh nghiệp “The High Performance Enterprise” (Walter Kruz, Alex Stratigakis and Gerald Hunt, 2006), tác giả chỉ rõ tầm quan trọng của quản lý vốn và tài sản đối với doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc trực tiếp vào hiệu quả quản lý vốn và tài sản. Nguồn vốn và tài sản có quản lý hiệu quả thì mới bảo đảm sự tồn tại, mở rộng, phát triển của doanh nghiệp.
Nguồn vốn đƣợc sử dụng nhƣ thế nào, hiệu quả khai thác ra sao sẽ là thƣớc đo để đánh giá năng lực quản lý, năng lực cạnh tranh, khả năng thích ứng và phát triển của doanh nghiệp. 5 - Nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý vốn đầu tƣ, cuốn “Capital: The Story of Long-Term Investment Excellence” (Charles D. Ellis , 2005) nêu lên ý nghĩa của việc quản lý vốn đầu tƣ nhƣ quản lý sự sống của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn phát triển thì phải đầu tƣ nhƣng để thành công trong đầu tƣ, bảo đảm phát triển thì điều tiên quyết là phải quản lý vốn đầu tƣ cho hiệu quả.
Sự đầu tƣ dàn trải, thiếu trọng tâm, thiếu chiến lƣợc sẽ là nguyên nhân đầu tiên và căn bản nhất dẫn đến thất bại của doanh nghiệp. Tác giả nhấn mạnh tuỳ từng loại hình doanh nghiệp mà nội dung quản lý vốn đầu tƣ có sự khác biệt nhất định nhƣng nhìn chung việc quản lý vốn đầu tƣ cần phải xác định rõ mục tiêu, có những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cụ thể và luôn có sự giám sát chặt chẽ trong quá trình quản lý từ khâu xây dựng chiến lƣợc, kế hoạch, tổ chức thực hiện đầu tƣ. - Cùng tiếp cận về vấn đề quản lý vốn trong doanh nghiệp, nghiên cứu “The Real Cost of Capital: A Business Field Guide to Better Financial Decisions” (Tim Ogier, John Rugman và Lucinda, 2004) đi theo hƣớng nhấn mạnh đến kỹ thuật quản lý vốn để có những quyết định tài chính sáng suốt. Những nội dung cơ bản trong cơ chế quản lý vốn của các doanh nghiệp đƣợc các tác giả xác định là: Cơ chế huy động và tạo lập vốn kinh doanh, cơ chế sử dụng vốn kinh doanh, cơ chế phân phối thu nhập của doanh nghiệp, cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
Tuy nhiên nghiên cứu về vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Công ty CP xây dựng số 3 thì chƣa có đề tài nào công bố. Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp 1. Khái quát chung về vốn, phân loại vốn 1. Khái niệm về vốn Trong nền kinh tế hòa nhập, doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng cần có vốn, đồng thời để tồn tại và phát triển đƣợc, doanh nghiệp cần phải có nguồn vốn đủ vững để phục vụ cho sản xuất kinh doanh nhằm đem về hiệu quả lợi nhuận cao nhất.
Câu hỏi đƣợc đặt ra ở đây: Vốn là gì? Cần có bao nhiêu vốn để đem lại giá trị thặng dƣ cao nhất cho doanh nghiệp khi đầu tƣ vào 6 sản xuất kinh doanh. Có nhiều quan điểm khác nhau về vốn. Trong doanh nghiệp vốn là một khối lƣợng tiền tệ hay là quỹ tiền tệ đặc biệt đƣợc đƣa vào lƣu thông giao thƣơng nhằm mục đích kiếm lời, tiền đó đƣợc sử dụng dƣới mọi hình thức của sự giao thƣơng mua bán trao đổi, hay để mua sắm tƣ liệu sản xuất và trả công cho ngƣời lao động, nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn số tiền đã đƣa ra. Do đó vốn mang lại giá trị thặng dƣ cho doanh nghiệp.
Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản lý là hiệu quả của sử dụng vốn. Vì vậy hạch toán và phân tích quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp là rất quan trọng. Theo nghĩa hẹp thì: “Vốn là một quỹ tiền tệ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia”. Theo nghĩa rộng thì: “Vốn là nội lực, tiềm lực bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hoá, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp” (Đinh Thế Hiển, 2007).
Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trƣờng hòa nhập mở rộng. Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi nƣớc ta trình độ quản lý kinh tế còn chƣa cao và các văn bản pháp luật chƣa đƣợc hoàn thiện. “Vốn (tư bản) không phải là vật, là tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư là một đầu vào của quá trình sản xuất” (Mác).
Để tiến hành sản xuất, nhà tƣ bản ứng tiền ra mua tƣ liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dƣ. Mác chia tƣ bản thành tƣ bản bất biến và tƣ bản khả biến. Tƣ bản bất biến là bộ phận tƣ bản tồn tại dƣới hình thức tƣ liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, ) mà giá trị của nó đƣợc chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm.
Còn tƣ bản khả biến là bộ phận tƣ bản tồn tại dƣới hình 7 thức lao động, trong quá trình sản xuất thay đổi về lƣợng, tăng lên do sức lao động của hàng hoá tăng. “Vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá và dịch vụ khác” (Stenley Ficher, Rudiger Darubused, cuốn Kinh tế học). Còn có thuyết “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính” (David Begg, cuốn Kinh tế học).