CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp 1.Vốn của doanh nghiệp Vốn là một yếu tố cơ bản và là tiền đề không thể thiếu được của mọi quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời vốn cũng là yếu tố quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế ở các nước, nhất là các nước đang phát triển và đặc biệt là đối với nền kinh tế nước ta hiện nay. Theo quan điểm của Karl Marx, dưới góc độ các yếu tố sản xuất, Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất [ 4, tr14 ]. Định nghĩa của Marx về vốn là một tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ cả bản chất và vai trò của vốn.
Bản chất của vốn chính là giá trị cho dù nó có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: nhà cửa, hàng hóa, máy móc… Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ phát triển của nền kinh tế Karl Marx chỉ bó hẹp khái niệm vốn trong khu vực sản xuất vật chất và cho rằng chỉ có kinh doanh sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.D Nordhous trong kinh tế học: “Vốn là khái niệm thường dùng để chỉ các hàng hóa làm vốn nói chung, một nhân tố sản xuất, một hàng hóa làm vốn khác với nhân tố sơ yếu( đất đai, lao động) ở chỗ nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của một nền kinh tế gồm vốn vật chất(nhà máy, thiết bị, kho tàng…) vốn tài chính( tiền, giấy tờ có giá,…)” (Trích dẫn qua [ 11, tr12 ] ). Theo quan điểm của David Begg thì vốn bao gồm tất cả các loại tài sản được dùng vào quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn không chỉ tồn tại ở các hình thái hiện vật như nhà cửa, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,… mà còn ở hình thái giá trị, đây vừa là hình thái ban đầu vừa là hình thái cuối cùng của vốn, bởi sau một chu kỳ kinh doanh vốn được thu hồi về dưới dạng ban đầu là tiền theo vòng chu chuyển T-H-T’ [ 8, tr11 ]. Quan điểm này đã cho thấy rõ nguồn gốc hình thành và trạng thái biểu hiện của vốn.
Có quan niệm khác cho rằng: Vốn kinh doanh trong doanh nghiệp là một quỹ tiền đặc biệt, tiền được coi là vốn phải đồng thời thỏa mãn các điều kiện: - Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định hay nói cách khác tiền phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực. - Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định. Sự tích tụ và tập trung lượng tiền đến hạn độ nào đó mới làm cho nó đủ sức để đầu tư vào một dự án kinh doanh nhất định. - Khi tiền đủ lượng phải vận động nhằm mục đích sinh lời [ 7, tr19-20 ].
7 Luan van Trong quá trình phát triển lâu dài của kinh tế học, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về vốn của doanh nghiệp, nhưng có thể khái quát chung nhất như sau: Vốn là biểu hiện bằng tiền giá trị toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Vốn kinh doanh là bộ phận chủ yếu của doanh nghiệp, bao gồm giá trị toàn bộ những tài sản mà doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Ngoài phần vốn nói chung của doanh nghiệp thì để phục vụ mục đích quản lý và nghiên cứu người ta còn tiến hành phân loại vốn. Trên thực tế người ta thường phân loại vốn theo hai tiêu thức là chu chuyển vốn và nguồn hình thành vốn.
Theo Phương thức chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm vốn cố định và vốn lưu động. Trong đó: Vốn cố định của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của giá trị tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị từ một năm trở lên hoặc qua nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về tài sản lưu động để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên, liên tục. Theo phương thức nguồn hình thành vốn thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ các khoản nợ và vốn của chủ sở hữu.
Trong đó: Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Vốn chủ sở hữu có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: Vốn do cá nhân chủ doanh nghiệp đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân, vốn do các cổ đông góp đối với công ty cổ phần,… Nợ phải trả là phần vốn thuộc sở hữu của các chủ thể khác do doanh nghiệp đi huy động bằng nhiều hình thức khác nhau như vay ngân hàng thương mại, vay các tổ chức tài chính khác, vay nợ khách hàng, phát hành giấy tờ có giá [ 5, tr7-10 ]. Hiệu quả sử dụng vốn Vốn là điều kiện cần cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp, nhưng chưa đủ để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường mục đích cuối cùng mà mọi doanh nghiệp hướng tới đó chính là lợi nhuận. Điều đó đồng nghĩa với việc khai thác và sử dụng hiệu quả tối ưu nguồn lực của doanh nghiệp trong đó có nguồn lực vốn.
Sử dụng vốn một cách có hiệu quả nghĩa là với mỗi đồng vốn ra doanh nghiệp thu về được lợi nhuận là lớn nhất có thể. Trên thực tế có rất nhiều cách tiếp cận và đưa ra nhiều khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn khác nhau. Mỗi quan điểm đều đứng trên một góc độ riêng của kinh tế học và đều cho thấy cái nhìn mới về hiệu quả sử dụng vốn. 8 Luan van Một số quan điểm cho rằng hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh danh là một.
Và kết luận trên là hoàn toàn không chính xác. Hiệu quả kinh doanh phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nói chung mà vốn là một trong các nguồn lực đó. Để làm rõ khái niệm hiệu quả dụng vốn thì trước tiên ta tìm hiểu các khái niệm liên quan như: hiệu quả, hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Hiệu quả của doanh nghiệp bao gồm hai bộ phận: Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế [ 3, tr167 ]. Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề phức tạp có mối quan hệ với tất cả cá yếu tố của quá trình kinh doanh( lao động, tư liệu lao động,. Từ đó cho thấy chỉ có thể đạt hiệu quả khi tất cả các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh đều đạt hiệu quả. Trong hoạt động sản xuất kinh danh, vốn được sử dụng nhằm thu được lợi nhuận trong tương lai.
Nói các khác, mục đích của việc sử dụng vốn là nhằm thu được lợi nhuận, vì vậy hiệu quả sử dụng vốn là một trong các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Quan điểm của nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa (Trích dẫn qua [ 10, tr9 ]). Có quan điểm khác cho rằng: “ Hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ phần trăm tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí (Trích dẫn qua [ 10, tr9 ]). Hiệu quả kinh doanh phản ảnh kết quả đạt được trong toàn bộ quá trình kinh doanh, là kết quả cuối cùng do các nhân tố nguồn lực đem lại, trong đó có vốn.
Như vậy, hiệu quả sử dụng vốn và hiệu quả kinh doanh là khác nhau. Hiệu quả kinh doanh có nội hàm rộng hơn và bao hàm hiệu quả sử dụng vốn. Hiệu quả sử dụng vốn một mặt phản ánh hiệu quả kinh doanh, là thước đo trình độ quản lý và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện mục tiêu. Hiệu quả sử dụng vốn là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác và sử dụng vốn, trình độ tổ chức và quản lý doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí vốn thấp nhất, phù hợp với mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra trong một chu kỳ kinh doanh nhất định.
Doanh thu Doanh thu là một trong những chỉ tiêu mà doanh nghiệp quan tâm nhất, doanh thu càng lớn càng chứng tỏ được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh thu có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, là khâu cuối cùng trong lưu thông. Là nhân tố quan trọng giúp doanh nghiệp bù đắp chi phí, thu hồi vốn, thực hiện giá thặng dư. Doanh thu thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp.
Nâng cao doanh thu là biện pháp căn bản để tăng lợi nhuận doanh nghiệp, nâng cao uy tín và khả năng chiếm lĩnh thị trường. Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền sẽ thu được do tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanh nghiệp [ 9, tr13 ] .Trong kinh tế học, doanh thu thường được xác định bằng giá bán nhân với sản lượng. Ta có công thức tính doanh thu như sau: TR = P.Q Trong đó: TR là doanh thu P là giá bán Q là sản lượng. Phần doanh thu có thêm nhờ sản xuất thêm được một đơn vị sản phẩm gọi là doanh thu biên.
Nó có thể diễn đạt bằng tỷ lệ giữa mức thay đổi trong doanh thu với mức thay đổi trong sản lượng. Doanh thu biên được tính theo công thức: dTR MR = dQ Trong đó: MR: doanh thu biên TR: doanh thu Q: sản lượng 1. Chi phí Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chi phí được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau.
Có quan điểm cho rằng: “Chi phí doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của việc sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh mà qua đó doanh nghiệp tạo ra được sản phẩm và thực hiện sản phẩm trên thị trường” [ 3, tr 176 ]. Quan điểm khác cho rằng: “Chi phí là những tổn phí về nguồn lực, tài sản cụ thể và dịch vụ sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh”.