CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NHÀN RỖI ĐỂ ĐẦU TƯ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 1.1 Cơ sở lý luận về bảo hiểm 1.1 Khái niệm về bảo hiểm Bảo hiểm là hoạt động theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Hoặc có thể nói BH là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít. Theo "Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam năm 2000 " ( có sửa dổi bổ sung năm 2010 ) : Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Hiện nay hoạt động BH tồn tại dưới dạng 2 dạng : hoạt động BH không mang tính kinh doanh và hoạt động BH mang tính kinh doanh.
Khác với bảo hiểm xã hội (XH) và BH y tế nhằm bảo đảm các quyền lợi XH tối thiểu cho người lao động, BH mang tính kinh doanh bảo đảm sự ổn định tài chính cho nền kinh tế hạn chế các nguy cơ rủi ro, huy động nguồn lực tài chính tạm thời nhàn rỗi , đầu tư dài hạn cho nền kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội như tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao nhận thức của người dân về vai trò và ý nghĩa của BH. Đối tượng tham gia BH mang tính kinh doanh là tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế theo nguyên tắc tự nguyện. Đối tượng được BH là con người, tài sản và trách nhiệm dân sự; chủ thể thực hiện hoạt động kinh doanh BH là các DNBH hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính 3 và thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước 1.2 Bản chất của bảo hiểm Về bản chất , bảo hiểm thương mại là biện pháp chia nhỏ tổn thất của một hay một số ít người có khả năng cùng gặp một loại rủi ro dựa vào một quỹ chung bằng tiền được lập bởi sự đóng góp của của nhiều người cũng có khả năng gặp tổn thất đó thông qua hoạt động của công ty bảo hiểm. Phân phối trong BH là phân phối không đều, không bằng nhau nghĩa là không phải ai tham gia cũng được phân phối và phân phối với số tiền như nhau Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc " số đông bù số ít ".
Phân phối trong BH là phân phối cho số ít người tham gia BH không may gặp rủi ro bất ngờ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống trên cơ sở mức thiệt hại thực tế và điều kiện BH. Điều đó cũng có nghĩa, phân phối trong BH không mang tính bồi hoàn, tức là dù có tham gia đóng góp vào quỹ BH nhưng không tổn thất thì không được phân phối ( trừ một số sản phẩm BHNT, BH hưu trí).3 Tác dụng của bảo hiểm Góp phần ổn định tài chính cho người tham gia trước tổn thất do rủi ro gây ra. Tổn thất sẽ được BH trợ cấp hoặc bồi thường về tài chính để người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống, sản xuất kinh doanh. Góp phần đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống con người an toàn hơn, xã hội trật tự hơn, giảm bớt nỗi lo cho mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp.
Khi tham gia BH, công ty BH sẽ cùng với người tham gia thực hiện các biện pháp đề phòng và hạn chế tổn thất rủi ro xảy ra như đóng góp tài chính để thực hiện tuyên truyền, hướng dẫn phòng tránh rủi ro. Góp phần ổn định chi tiêu của ngân sách nhà nước. Với quỹ BH do các thành viên tham gia đóng góp, công ty BH sẽ trợ cấp hoặc bồi thường tổn thất thuộc phạm vi BH cho người tham gia. Như vậy, ngân sách nhà nước không 4 phải chi ra để trợ cấp cho các thành viên khi gặp rủi ro.Mặt khác,BH còn làm tăng thu cho ngân sách thông qua trách nhiệm đóng góp các loại thuế.
Bảo hiểm là phương thức huy động vốn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Dưới hình thức phí BH, ngành BH đã huy động được một số lượng vốn khá lớn từ các đối tượng tham gia. Số vốn đó ngoài chi trả trợ cấp hay bồi thường thiệt hại còn là nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt đối với BHNT, nguồn vốn huy động được tích luỹ qua thời gian dài mới sử dụng để chi trả.
Do đó, các công ty BH có thể sử dụng để kinh doanh bất động sản, mua trái phiếu,…nghĩa là dùng để đầu tư và hoạt động kinh tế nhằm sinh lời. Và như vậy góp phần tăng nguồn vốn cho nền kinh tế, làm cho hệ thống tài chính sôi động hơn. Góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế thông qua hoạt động tái BH. Thị trường BH nội địa và thị trường BH quốc tế có mối quan hệ qua lại, thúc đẩy nhau phát triển thông qua hình thức phân tán và chấp nhận rủi ro – hình thức tái BH giữa các công ty của các nước.
Thu hút một số lượng lao động, góp phần giảm bớt tình trạng thất nghiệp cho xã hội,đảm bảo an sinh xã hội 1.2 Sự hình thành nguồn vốn nhàn rỗi trong các doanh nghiệp bảo hiểm 1.1 Vốn điều lệ Hoạt động bảo hiểm là hoạt động có “ sự đảo ngược của chu kỳ sản xuất kinh doanh ”, công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm của khách hàng trước, sau đó mới dùng tiền này để chi trả bồi thường. Như vậy, có thể nói họ không cần tiền “ vốn ” trước hoặc cần nhưng rất ít để mua sắm “ nguyên vật liệu, nhà xưởng ”… để sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, trong thực tế, pháp luật Việt Nam quy định vốn pháp định cho các công ty bảo hiểm là tương đối lớn. Ví dụ ở Việt Nam hiện nay, luật Bảo hiểm quy định vốn pháp định như sau: Với công ty bảo hiểm nhân thọ: Vốn pháp định là 600 tỷ VND Với công ty bảo hiểm phi nhân thọ: Vốn pháp định là 300 tỷ VND 5 Sở dĩ nhà nước yêu cầu vốn pháp định của các công ty bảo hiểm cao như vậy là nhằm bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm.
Giống như các trung gian tài chính khác, khi công ty bảo hiểm làm ăn không có hiệu quả, không còn đủ tiền trả cho khách hàng, nhà nước sẽ lấy từ tiền vốn điều lệ của công ty ra để giải quyết cho họ. Công ty bảo hiểm phải ký quỹ một phần vốn điều lệ của công ty theo quy định của pháp luật ( ở Việt Nam là 5% vốn pháp định ), phần còn lại họ có thể đem đầu tư sinh lời. Trong công ty bảo hiểm, nguồn vốn đầu tư này chiếm tỷ trọng chưa lớn nhưng cũng khá quan trọng. Nguồn vốn đầu tư này là vốn tự có của công ty nên nó không chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật, tạo điều kiện cho công ty bảo hiểm đầu tư vào những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao.2 Quỹ dự trữ bắt buộc và quỹ dự trữ tự nguyện Công ty bảo hiểm cũng như các trung gian tài chính khác có chức quan trọng lưu chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu thông qua việc thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và đầu tư nguồn phí đó một cách có hiệu quả.
Nhưng trong qúa trình hoạt động kinh doanh, bản thân công ty cũng có thể gặp phải những rủi ro, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của công ty, và suy cho cùng là ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Vì vậy, để quản lý công ty bảo hiểm và đảm bảo khả năng thanh toán cho công ty, nhà nước yêu cầu các công ty phải trích lập các quỹ dự trữ bắt buộc. Mức tối đa của quỹ dự trữ bắt buộc bằng 10% vốn điều lệ của công ty bảo hiểm. Trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm, công ty bảo hiểm phải luôn duy trì được khả năng thanh toán của mình.
Ngoài quỹ dự trữ bắt buộc theo yêu cầu của pháp luật, công ty có thể thành lập quỹ dự trữ tự nguyện nhằm tăng khả năng thanh toán của công ty, được lấy từ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối, và phải ghi trong điều lệ hoạt động của công ty. 6 Các quỹ dự trữ bắt buộc và tự nguyện là một trong những nguồn vốn đầu tư sinh lời của DNBH ,mặc dù nguồn vốn này chiếm tỷ trọng nhỏ.3 Các khoản lãi của những năm trước chưa sử dụng và lợi nhuận được để lại của doanh nghiệp Cuối mỗi năm tài chính, lợi nhuận sau thuế của công ty bảo hiểm được sử dụng để chia cổ tức cho cổ đông đối với công ty cổ phần,trích lập các quỹ như quỹ đầu tư phát triển ,quỹ khen thưởng phúc lợi .phần còn lại sẽ được bổ sung vào nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp. Trong bảo hiểm nhân thọ , DNBH còn có các quỹ đầu tư hình thành từ lợi nhuận được để lại, đảm bảo cho những cam kết có chia lãi .4 Nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm Đây là nguồn vốn nhàn rỗi cơ bản của DNBH Do sự khác biệt về thời điểm thu phí BH và thời điểm chi trả bồi thường nên DNBH phải luôn duy trì các khoản dự phòng để thực hiện cam kết với người đóng BH vào bất cứ thời điểm nào. Hằng năm, khi kết thúc năm tài chính, từ các HĐ mà DNBH đã ký kết có thể xảy ra những sự kiện không thể biết trước một cách chính xác như : - Xảy ra rủi ro từ các HĐ mà thời hạn hiệu lực chưa kết thúc vào ngày cuối năm tài chính.
- Các vụ tổn thất đã xảy ra từ các HĐ thuộc năm tài chính hiện hành và năm tài chính trước nhưng chưa được DNBH chi trả. - Ngoài ra, trong quá trình kinh doanh các nghiệp vụ BH, các DNBH còn phải trích lập các dự phòng nảy sinh từ quy trình kỹ thuật nghiệp vụ BH. Đó là các khoản tiền mà DNBH đã cam kết phải trả cho người đóng BH, khoản tiền cho phép DNBH có thể đối mặt với những đột biến trong kinh doanh.