phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được kết cấu theo 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại các doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel. Chƣơng 4: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước tại Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƢỚC TẠI DOANH NGHIỆP 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiệu quả sử dụng vốn là yêu cầu mang tính thường xuyên và bắt buộc đối với doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp ta thấy được hiệu quả hoạt động kinh doanh nói chung và quản lý sử dụng vốn nói riêng. Chính vì vậy, hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề mà được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều doanh nghiệp quan tâm và thực tế đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đềnày.
Tác giả Nguyễn Thị Lệ Thủy trong luận văn thạc sĩ:“Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Hương Giang”, Học viện Tài chính năm 2012, đã đánh giá thực trạng công tác tổ chức và sử dụng vốn kinh doanh tại công ty trên cơ sở khuôn khổ lý thuyết về vốn và hiệu quả sử dụng vốn đã có sẵn, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp này. Tác giả Nguyễn Thị Hằng trong đề tài: “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần xây dựng Ba Vì”, luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Thương Mại năm 2013, đã nghiên cứu được các chỉ tiêu cơ bản và cần thiết cho hoạt động phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty. Tác giả Võ Thị Thanh Thủy nghiên cứu vốn ngành nghề công nghệ phẩm với đề tài: “Phân tích hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần Công nghệ phẩm Đà Nẵng”, luận văn thạc sĩ, Đại học Đà Nẵng năm 2014. Trong đề tài, tác giả đã trình bày lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn; phân 4 tích đánh giá thực trạng sử dụng vốn tại Công ty cổ phần công nghệ phẩm Đà Nẵng;đứng trên giác độ hình thànhvà giác độ chu chuyển vốn để phân loại vốn.
Khi phân tích hiệu quả sử dụng vốn, tác giả cũng đưa ra một số hệ thống chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Công nghệ phẩm Đà Nẵng, từ đó đưa ra các nhận xét và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Côngty. Tác giả Hà Thị Thu Phương trong đề tài: “Phân tích tình hình tài chính công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà”, luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh Tế, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015 đã trình bày hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp. Tác giả đưa ra các chỉ tiêu và sử dụng một số phương pháp phân tích phổ biến, đánh giá tình hình tài chính trong giai đoạn 5 năm gần nhất của Công ty cổ phần quốc tế Sơn Hà; từ đó rút ra được những thành tựu, hạn chế, tiến hành dự báo báo cáo tài chính của công ty trong giai đoạn 2015-2016. Dựa trên những ưu điểm và tồn tại trong tình hình tài chính của công ty, tác giả có đề cập một số biện pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của đơn vị.
Có thể thấy rằng, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đã được các đề tài nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau. Mỗi một đề tài nghiên cứu lại có cách tiếp cận và đưa ra các giải pháp khác nhau. Khoảng trống cần nghiên cứu Đến thời điểm này chưa có đề tài nào nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn nhà nước của Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel. Với đề tài của mình, ngoài việc tổng hợp cơ sở lý luận về các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tác giả mong muốn với những kinh nghiệm thực tiễn đang có, tìm hiểu kỹ hơn về hiệu quả sử dụng vốn cũng như tìm kiếm giải pháp để phát triển hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn; mạnh dạn đi sâu vào phân tích những vấn đề liên quan đề vốn nhà nước tại Tập đoàn Viễn thông Quân Đội Viettel.
Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn nhà nƣớc tại các doanh nghiệp 1. Khái quát chung về vốn Trong nền kinh tế hội nhập, doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng cần có vốn, đồng thời để tồn tại và phát triển được, doanh nghiệp cần phải có nguồn vốn đủ vững để phục vụ cho sản xuất kinh doanh nhằm đem về hiệu quả lợi nhuận cao nhất. Câu hỏi được đặt ra ở đây: Vốn là gì? Cần có bao nhiêu vốn để đem lại giá trị thặng dư cao nhất cho doanh nghiệp khi đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Có nhiều quan điểm khác nhau về vốn.
Trong doanh nghiệp, vốn là một khối lượng tiền tệ đặc biệt được đưa vào lưu thông giao thương nhằm mục đích kiếm lời. Tiền đó được sử dụng dưới mọi hình thức để mua bán trao đổi, mua sắm tư liệu sản xuất và trả công cho người lao động nhằm hoàn thành công việc sản xuất kinh doanh hay dịch vụ nào đó với mục đích là thu về số tiền lớn hơn số tiền đã đưa ra. Do đó, vốn mang lại giá trị thặng dư cho doanh nghiệp. Quan điểm này đã chỉ rõ mục tiêu của quản lý là hiệu quả của sử dụng vốn.
Vì vậy hạch toán và phân tích quản lý việc sử dụng vốn của doanh nghiệp là rất quan trọng. Theo nghĩa hẹp thì: Vốn là một quỹ tiền tệ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia.Theo nghĩa rộng thì: Vốn là nội lực, tiềm lực bao gồm toàn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để sản xuất hàng hóa, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các kiến thức kinh tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích lũy, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác nghiệp của các cán bộđiều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường hòa nhập mở rộng. Tuy nhiên, việc xác định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi ở nước ta trình độ quản lý kinh tế còn chưa cao và các văn bản pháp luật chưa được hoàn thiện.
6 Vốn (tư bản) không chỉlà hiện vật mà là tư liệu sản xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư là một đầu vào của quá trình sản xuất. Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư.
Mác chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tư bản bất biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xưởng ) mà giá trị của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm. Còn tư bản khả biến là bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay đổi về lượng, tăng lên do sức lao động của hàng hóa tăng. “Vốn hiện vật là giá trị của hàng hóa đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hóa và dịch vụ khác” (Stenley Ficher, cuốn Kinh tế học).
Còn có thuyết “Vốn được phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính” (David Begg, cuốn Kinh tế học). Bản thân vốn là một hàng hóa nhưng được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo. Quan điểm này đã cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là chưa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn. Một số nhà kinh tế học khác lại cho rằng: Vốn có nghĩa là phần lượng sản phẩm tạm thời phải hy sinh cho tiêu dùng hiện tại của nhà đầu tư để đẩy mạnh sản xuất tiêu dùng trong tương lai.
Quan điểm này chủ yếu phản ánh động cơ về đầu tư nhiều hơn là nguồn vốn và biểu hiện của nguồn vốn. Do vậy quan điểm này cũng không đáp ứng được nhu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cũng như phân tích vốn. Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện được vai trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu cụ thể. Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên 7 phương diện hạch toán và quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về quản lý đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trên cơ sở phân tích các quan điểm về vốn ở trên, khái niệm vốn cần thể hiện được các vấn đề sau đây: - Nguồn gốc sâu xa của vốn kinh doanh là một bộ phận của thu nhập quốc dân được tái đầu tư, để phân biệt với vốn đất đai, vốn nhân lực. - Trạng thái của vốn kinh doanh tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh là tài sản vật chất (tài sản cố định và tài sản dự trữ) và tài sản tài chính (tiền mặt gửi ngân hàng, các tín phiếu, các chứng khoán ) là cơ sở để đưa ra các biện pháp quản lý vốn kinh doanh của doanh nghiệp một cách có hiệu quả. - Phải thể hiện được mục đích sử dụng vốn đó là tìm kiếm các lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội mà vốn đem lại, vấn đề này sẽ định hướng cho quá trình quản lý kinh tế nói chung, quản lý vốn doanh nghiệp nói riêng. Từ những vấn đề nói trên, có thể nói quan niệm về vốn là: “Phần thu nhập quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính được cá nhân, các doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích” (Trần Ngọc Thơ, 2005).