phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 4 chƣơng sau : Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luậnvề hiệu quả sử dụng vốn lƣu động. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty Cổ phần vật tƣ & vận tải - ITASCO. Chƣơng 4 : Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vố lƣu động tại Công Cổ phần vật tƣ & vận tải - ITASCO.
3 CHƢƠNG 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƢU ĐỘNG 1. Tình hình nghiên cứu Ngô Thu Yến, (2010) nghiên cứu về đề tài: “Hiệu quả sử dụng vốn lƣu độngtạiCông ty Cổ phầnXây lắp bƣu điện Hà Nội”. Tác giả đặt yếu tố con ngƣời quan trong nhất trong các yếu tố công nghê máy móc hay tiềm lực nguồn vốn. Tác giả đề xuất Công ty cần phải xét lại cơ cấu nhân sự , tìm hiểu đánh giánăng lực, trình độ của từng ngƣời, quy hoạch và đào tạo cán bộ quản lý có trình độ lý luận và thực tiễn để có thể quản trị tốt VLĐ và cácvấnđềkháctrongCông ty.
Bên cạnh đó, nhằm tăng cƣờng trình độ nhân sự cũ,cần thƣờng xuyên mở lớp bồi dƣỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho các đối tƣợng nằm trong diện quy hoạch của Công ty. Tác giả cho rằng, yếu tố con ngƣời là điều kiện đầu tiên cần phát triển và bồi dƣỡng để có thể nâng cao đƣợc hiệu quả sử dụng vốn trong mỗi Công ty nói chung và Công ty cổ phần Xây lắp bƣu điện Hà Nội nói riêng. Trần Xuân Nghĩa, (2012) nghiên cứu về: “Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Viễn Thông Lâm Đồng” đã nhấn mạnh đến mối quan hệ với ngân hàng để có thể dễ dàng tiếp cận với nguồn vốn,Tiêu biểu nhƣ: thanh toán đúng thời hạn,không để nợ quáhạn , sử dụng tiền vay đúng mục đích. Bên cạnh đó, tác giả cũng chú ý tới việc xây dựng mối quan hệ với khác hàng vì đây là mục tiêu cao nhất trong việc xây dựng thị trƣờng, mạng lƣới kinh doanh của mình.
Doanh nghiệp cần: nâng cao uy tín với khách hàng, thực hiện đúng hợp đồng với khách hàng. Bên cạnh đó, tác giả cho rằng làm thế nào để có những phƣơng thức quản lý vốn lƣu động hữu hiệu nhất góp phần nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung của mỗi doanh nghiệp, là một vấn đề cần tiếp tục nghiêncứu. 4 Luyện Thị Thanh Hà, (2013) đã chỉ ra rằng áp dụng các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động cần dựa trên cơ sở phân tích đánh giá chính xác thực trạng của từng đơn vị để nghiên cứu , đề xuất giải pháp cụ thể gắn với điều kiện hoàn cảnh thực tế của đơn vị mới đạt đƣợc kết quả mong muốn. Nghiên cứu chỉ ra việc thay đổi nhận thức và nhận thức đúng đắn về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là việc làm cần thiết , trƣớc hết là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của ngành để hội nhập và là cơ sở đảm bảo cho sự phát triển bền vững đối với Công ty.
Đồng thời, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động trƣớc hếtphải trên cơ sở vận động của chính bản thân doanh nghiệp, chứ không thể ỷ lại, trông chờ vào Nhà nƣớc. Nông Thị Ngân Giang, (2015) khi nghiên cứu đề tài: “Hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà”, đã chỉ ra các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình sử dụng vốn lƣu động của doanh nghiệp. Các yếu tố cấu thành nên nguồn vốn này đƣợc bóc tách chi tiết để từ đó, bài viết đánh giá từng bộ phận, yếu tố nào ảnh hƣởng xấu đến hiệu quả sử dụng vốn. Tác giả nêu ra rất nhiều các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhƣ : thay đổi mô hình lƣu trữ hàng tồn kho, đề xuất lại hệ thống nhân sự, thiết lập chính sách bán hàng mới… Qua các nghiên cứu trên, ta nhận thấy, đa số các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các doanh nghiệp cụ thể nhƣng chƣa làm nổi bật đƣợc vai trò quan trọng của vốn lƣu động đối với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu chƣa đi sâu vào lý thuyết chung, cơ sở lý luận về nguồn vốn lƣu động. Mặt khác, cũng chƣa có bài viết nào nghiên cứu thực tiễn tại Công ty cổ phần vật tƣ & vận tải ITASCO. Nhƣ vậy, để phân tích chuyên sâu hơn về hiệu quả sử dụng vốn lƣu động; nghiên cứu này sẽ đi sâu hơn về lý luận chung của hiệu quả sử dụng vốn lƣu động; các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn này. Kết hợp 5 với lý thuyết sẽ là các phân tích tình hình thực tế từ số liệu Công ty cổ phần vật tƣ & vận tải ITASCO giai đoạn 2014-2016.
Nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu tham cho lãnh đạo Công ty Cổ phần vật tƣ & vận tải ITASCO điều chỉnh chiến lƣợc kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa và hộinhập của nƣớc ta hiện nay. Khái niệm Khác với tƣ liệu lao động thì đối tƣợng lao động là yếu tố quan trọng và rất cần thiết đối với một doanh nghiệp. Đối tƣợng lao động bao gồm : nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm, sản phẩm dở dang,… Những đối tƣợng lao động này khi tham gia quá trình sản xuất, không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu và giá trị của chúng đƣợc chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị của sản phẩm và chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Sang một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới thì sẽ có những đối tƣợng lao động mới.Trong doanh nghiệp các đối tƣợng lao động này là các tài sản lƣu động.
Tài sản lƣu động là những tài sản ngắn hạn và thƣờng xuyên luân chuyển trong quátrình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản lƣu động đƣợc thể hiện ở các bộ phận : tiền mặt , các chứng khoán thanh khoản cao, phải thu và dự trữ tồn kho. Mặt khác, để đảm bảo cho quátrình sản xuất kinh doanh đƣợc hoạt động liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lƣợng tài sản lƣu động nhất định. Do đó doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định đầu tƣ vào các tài sản đó.
Số vốn này đƣợc gọi là vốn lƣu động của doanh nghiệp. Vì vậy, chúng ta có thể thấy rằng: “Vốn lƣu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài sản lƣu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc thực hiện thƣờng xuyên và liên tục. Vốn lƣu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và đƣợc thu 6 hồi, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh. Cùng quan điểm trên Trần Đình Tuấn (2008, trang 61) đã phát biểu rằng: “Vốn lƣu động của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trƣớc để đầu tƣ, mua sắm tài sản lƣu động của doanh nghiệp, nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc thực hiện một cách thƣờng xuyên liên tục”.
Ngoài ra, Phạm Thanh Bình (2009, trang 59) cũng nói rằng: “Vốn lƣu động của doanh nghiệp là số vốn mà doanh nghiệp đã sử dụng để mua sắm, hình thành nên tài sản lƣu động phục vụ cho quá trình kinh doanh ở một thời điểm nhất định”. Nhƣ vậy, qua sự thống nhất quan điểm của các tác giả về khái niệm về vốn lƣu động chúng ta có thể thấy rằng vốn lƣu động chính là biểu hiện bằng tiền của tài sản lƣu động.Đặc điểm Trần Đình Tuấn (2008, trang 61) đã chỉ ra vốn lƣu động của doanh nghiệp có các đặc điểm sau: - Vốn lƣu động trong quátrình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện: + Sự vận động của vốn lƣu động trong doanh nghiệp sản xuất thông qua ba giai đoạn theo trình tự sau: Giai đoạn 1 (T – H): Vốn lƣu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật chất là nguyên nhiên vật liệu. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn mua nguyên nhiên vậtliệu. Giai đoạn 2 (H – H’): Vốn lƣu động từ hình thái là nguyên nhiên vật liệu chuyển sang hình thái là sản phẩm sản xuất ra.
Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn sản xuất, chếbiến. 7 Giai đoạn 3 (H’ – T’): Vốn lƣu động từ hình thái hiện vật là sản phẩm sản xuất ra chuyển sang hình thái là tiền tệ ban đầu. Giai đoạn này gọi là giai đoạn tiêu thụ sảnphẩm. + Sự vận động của vốn lƣu động trong doanh nghiệp thƣơng mại thông qua hai giai đoạn, theo trình tự sau: Giai đoạn 1 (T- H): Vốn lƣu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vật chất (hàng hoá).
Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn muahàng. Giai đoạn 2 (H – T’): Vốn lƣu động chuyển hoá từ hình thái hàng hoá sang hình thái tiền tệ ban đầu và kết thúc một vòng tuần hoàn của vốn lƣu động. Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn bánhàng. - Vốn lƣu động chuyển toàn bộ giá tr ị ngay trong một lần và đƣợc hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kì kinhdoanh, thời gian để hoàn thành một kỳ luân chuyển là tƣơng đối ngắn.
- Vốn lƣu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì kinh doanh. “Vốn lƣu động là điều kiện vật chất không thể thiếu đƣợc của quá trình tái sản xuất. Muốn cho quátrình tái sản xuất đƣợc liên tục , doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn đầu tƣ vào các hình thái khác nhau của vốn lƣu động, khiến cho các hình thái có đƣợc mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau. Nhƣ vậy sẽ tạo điều kiện cho chuyển hóa hình thái của vốn trong quá trình luân chuyển đƣợc thuận lợi, góp phần tăng tốc độ luân chuyển vốn lƣu động, tăng hiệu suất sử dụng vốn lƣu động và ngƣợc lại.
Vì vậy, trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách về nhiệm tài chính của các doanh nghiệp hiện nay, sự vận động của vốn lƣu động đƣợc gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và ngƣời lao động. Vòng quay của vốn càng đƣợc quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm đƣợc vốn, giảm chi phí sử 8 dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức của doanh nghiệp.