LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn Trong bất kể một nền sản xuất nào, để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có hai yếu tố căn bản đó là tƣ liệu sản xuất và nguồn lực lao động. Doanh nghiệp cần tiền để mua sắm máy móc thiết bị, đất đai, nhà xƣởng, và chi trả lƣơng cùng các chi phí khác Tiền tệ chính là hình thái vốn ban đầu của doanh nghiệp.
Số tiền này do chủ doanh nghiệp bỏ ra ngay từ khi thành lập doanh nghiệp, và có một phần từ khoản vay nợ. Trong cuốn sách Tài chính doanh nghiệp do trƣờng Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2009 của các tác giả TS Bùi Hữu Phƣớc, TS Lê Thị Lanh, TS Lại Tiến Dĩnh, TS Phan Thị Nhi Hiếu, vốn đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Vốn là lượng giá trị doanh nghiệp phải ứng ra để luân chuyển trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất.” Còn trong cuốn Financial Management của C. Subramanian do nhà xuất bản New Age ấn hành, vốn đƣợc hiểu nhƣ sau: “Thuật ngữ vốn đề cập đến tổng đầu tư của doanh nghiệp vào tiền mặt và tài sản. Nó cũng được gọi là tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp.
Khi doanh nghiệp tiến hành đầu tư cho hoạt động kinh doanh, nó được gọi là vốn. Vốn được chia thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.” Tóm lại, vốn là một phạm trù đƣợc xem xét, đánh giá và tiếp cận dƣới những góc độ nghiên cứu khác nhau, trong những điều kiện lịch sử khác nhau. Tuy nhiên ta có thể hiểu khái quát: Vốn kinh doanh là toàn bộ những giá trị ban đầu hay các giá trị tích lũy đƣợc cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp 1. Khái niệm v đặc điểm vốn lưu động a.
hái niệm vốn lưu động Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào cũng cần có đối tƣợng lao động. Lƣợng tiền ứng trƣớc để thỏa mãn nhu cầu về các đối tƣợng lao động gọi là vốn lƣu động. Vốn lƣu động là một bộ phận của vốn kinh doanh ứng ra để hình thành nên tài sản ngắn hạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc diễn ra thƣờng xuyên, liên tục và thời gian luân chuyển dƣới 1 năm Biểu hiện dƣới dạng hình thái vật chất của vốn lƣu động chính là tài sản ngắn hạn. Trong doanh nghiệp ngƣời ta thƣờng chia TSNH thành tài sản ngắn hạn sản xuất và tài sản lƣu thông 1 Tài sản ngắn hạn sản xuất bao gồm những tài sản ở khâu dự trữ sản xuất nhƣ nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu và tài sản ở khâu sản xuất nhƣ bán thành phẩm, sản phẩm dở dang, chi phí chờ phân bổ Tài sản lƣu thông của doanh nghiệp bao gồm sản phẩm hàng hóa chƣa đƣợc tiêu thụ (hàng tồn kho), vốn bằng tiền và các khoản phải thu Có nhiều quan điểm khác nhau khi đƣa ra khái niệm về VLĐ nhƣng bản chất về VLĐ đều giống nhau.
“Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng TSNH nhất định. Do đó để hình thành nên TSNH, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn đầu tư vào loại tài sản này, số vốn đó được gọi là vốn lưu động”. “Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh”.
Tóm lại, VLĐ của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên TSNH nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục VLĐ chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lƣu thông và từ trong lƣu thông toàn bộ giá trị của chúng đƣợc hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh. Trong các doanh nghiệp thƣơng mại thì vốn lƣu động luôn chiếm một tỷ lệ lớn so với tổng số vốn kinh doanh (thƣờng chiếm khoảng 70 – 80% vốn kinh doanh). Đặc điểm vốn lưu động Trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh doanh thì vốn lƣu động không ngừng vận động và thay đổi hình thái biểu hiện. Từ hình thái vốn bằng tiền sang các hình thái khác nhau và khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm thì vốn lƣu động lại trở lại hình thái ban đầu là vốn bằng tiền Sự vận động của vốn qua các giai đoạn đƣợc mô tả qua sơ đồ sau: T – H – SX – H’ – T’ Giai đoạn 1 (T-H): khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lƣu động dƣới hình thái tiền tệ đƣợc dùng để mua sắm các đối tƣợng lao động để dự trữ cho sản xuất Nhƣ vậy ở giai đoạn này vốn lƣu động đã từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái vốn vật tƣ hàng hoá Giai đoạn 2 (H-SX-H’): ở giai đoạn này doanh nghiệp tiến hành sản xuất ra sản phẩm, các vật tƣ dự trữ đƣợc đƣa dần vào sản xuất.
Trải qua quá trình 2 Thang Long University Library sản xuất các sản phẩm hàng hoá đƣợc chế tạo ra Nhƣ vậy ở giai đoạn này vốn lƣu động đã từ hình thái vốn vật tƣ hàng hoá chuyển sang hình thái vốn sản phẩm dở dang và sau đó chuyển sang hình thái vốn thành phẩm. Giai đoạn 3 (H’-T’): doanh nghiệp tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu đƣợc tiền về và vốn lƣu động đã từ hình thái vốn thành phẩm chuyển sang hình thái vốn tiền tệ trở về điểm xuất phát của vòng tuần hoàn vốn, vòng tuần hoàn kết thúc. So sánh giữa T và T’, nếu T’ >T có nghĩa doanh nghiệp kinh doanh thành công vì đồng vốn lƣu động đƣa vào sản xuất đã sinh sôi nảy nở, doanh nghiệp bảo toàn, phát triển đƣợc vốn lƣu động và ngƣợc lại Đây là một nhân tố quan trọng đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lƣu động của doanh nghiệp. Sự vận động của vốn lƣu động nhƣ vậy gọi là sự tuần hoàn vốn.
Trong quá trình đó, vốn lƣu động chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa đƣợc thực hiện và vốn lƣu động đƣợc thu hồi. Các giai đoạn của vòng tuần hoàn luôn đan xen với nhau mà không tách biệt riêng rẽ, quá trình kinh doanh diễn ra liên tục lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo sự chu chuyển của vốn lƣu động. Và trong quá trình này, vốn lƣu động thay đổi hình thái không ngừng, do đó tại một thời điểm vốn lƣu động cùng tồn tại dƣới các hình thái khác nhau trong các giai đoạn mà vốn đi qua Vì vậy, trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý vốn lƣu động có một vai trò hết sức quan trọng, đòi hỏi phải thƣờng xuyên nắm sát tình hình luân chuyển vốn, kịp thời khắc phục những ách tắc sản xuất, đảm bảo đồng vốn đƣợc lƣu chuyển liên tục và nhịp nhàng. Trong cơ chế tự chủ và tự chịu về tài chính tại các doanh nghiệp hiện nay, sự vận động của vốn lƣu động đƣợc gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và ngƣời lao động.
Vòng quay của vốn càng đƣợc quay nhanh thì doanh thu sẽ càng cao, càng tiết kiệm đƣợc vốn, bên cạnh đó còn giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý nhất, doanh nghiệp tăng thu nhập và có điều kiện mở rộng sản xuất, cải thiện đời sống công nhân viên chức tại công ty. Tóm lại, vốn lƣu động luôn vận động nên kết cấu vốn lƣu động luôn biến động và phản ánh sự vận động không ngừng của hoạt động kinh doanh. Phân loại vốn lưu động Để quản lý, sử dụng vốn lƣu động có hiệu quả thì công việc trƣớc tiên mà doanh nghiệp cần phải làm là phân loại vốn lƣu động. Tùy thuộc vào những hoạt động của mình mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn việc phân chia vốn lƣu động theo các tiêu thức khác nhau Để quản lý vốn lƣu động có hiệu quả, chúng ta cần tiến hành phân loại vốn lƣu động: 3 a.
Căn cứ v o quá trình tuần ho n vốn VLĐ trong khâu dự trữ: là bộ phận VLĐ để thiết lập, dự trữ về vật tƣ, hàng hóa trong quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo doanh nghiệp tiến hành sản xuất liên tục. Bao gồm các khoản vốn sau: vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật liệu đóng gói và vốn công cụ, dụng cụ nhỏ. VLĐ trong khâu sản xuất: là vốn đƣợc dùng để đảm bảo cho quá trình, sản xuất của các bộ phận tham gia vào dây chuyền công nghệ đƣợc diễn ra liên tục, không bị gián đoạn. Bao gồm: vốn sản phẩm đang chế tạo, vốn về chi phí trả trƣớc.
VLĐ trong khâu lƣu thông: là vốn dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thƣờng xuyên, đều đặn theo nhu cầu của khách hàng. Bao gồm: vốn thành phẩm, vốn bằng tiền. Cách phân loại này cho thấy vai trò sự phân bổ của VLĐ trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu VLĐ hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển VLĐ, nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ b. Căn cứ v o hình thái biểu hiện Theo cách phân loại này vốn lƣu động đƣợc chia thành: Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: Vốn bằng tiền: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển.
Tiền trong doanh nghiệp là một loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh doanh sản xuất, doanh nghiệp luôn phải có dự trữ một lƣợng tiền nhất định. Các khoản phải thu: Chủ yếu đó là các khoản thu từ khách hàng – số tiền mà họ đang nợ doanh nghiệp (phát sinh trong quá trình bán hàng, dịch vụ dƣới hình thức bán trả sau).