LỜI MỞ ĐẦU Trong cơ chế thị trường hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh, trao đổi hàng hoá dịch vụ cũng đều nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo… Vì vậy trong điều kiện cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp phải phát huy tinh thần sáng tạo, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận cao nhất. Khi đi vào hoạt động, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng vốn nhất định để sản xuất kinh doanh. Do đó làm sao quản lý và sử dụng tốt, có hiệu quả nguồn vốn kinh doanh đang được xem là vấn đề cấp bách được các nhà quản lý quan tâm hàng đầu. Trên thực tế đã không ít doanh nghiệp khi đi vào hoạt động với số vốn thấp nhưng nhờ có biện pháp quản lý và sử dụng vốn tốt đã không ngừng phát triển, mở rộng quy mô sản xuất.
Bên cạnh đó cũng không ít doanh nghiệp khi đi vào hoạt động với số vốn lớn nhưng do sản xuất kinh doanh không hiệu quả dẫn đến lỗ, vốn ngày càng bị thu hẹp, thậm chí còn dẫn đến phá sản. Qua đây ta thấy việc quản lý và sử dụng vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với tất cả các doanh nghiệp, mà thể hiện rõ nhất đó là việc quản lý và sử dụng vốn lưu động. Vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu chủ yếu được sử dụng để đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp. Xác định nguồn vốn hợp lý sẽ phát huy hết năng lực của doanh nghiệp, mang lại hiệu quả cao nhất nhưng chi phí lại thấp nhất.
Việc nghiên cứu quản lý và hiệu quả sử dụng vốn lưu động có ý nghĩa lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Tính đúng, tính đủ vốn lưu động là một yêu cầu rất quan trọng, là cơ sở để kiểm tra SVTH: Cao Thị Thu Lành GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mai Hương Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trang 2 quá trình thực hiện như thế nào, từ đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn với mục đích tăng lợi nhuận, đem lại nguồn lợi cho doanh nghiệp. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên nên em chọn đề tài “Phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần 504” làm chuyên đề tốt nghiệp. Chuyên đề gồm có 3 phần: Phần 1: Cơ sở lý luận về phân tích tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
Phần 2: Phân tích tình hình quản lý và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần 504 Phần 3: Phương hướng và một số giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần 504. Qua thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Quy Nhơn, dưới sự tận tình chỉ bảo của các thầy cô giáo cùng với sự nổ lực của bản thân, em đã tích luỹ được một lượng kiến thức cần thiết và những kiến thức này đã giúp đỡ em rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện chuyên đề tốt nghiệp và là cơ sở để em bước vào nghề sau này. Em xin chân thành cảm ơn sừ tận tình dìu dắt, dạy bảo của các thầy cô giáo trong suốt quá trình học tập, đặc biệt là cô giáo ThS. Nguyễn Thị Mai Hương đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp của mình.
Em xin chân thành cảm ơn các anh chị trong phòng tài chính kế toán cũng như các anh chị trong Công ty Cổ phần 504 đã tạo điều kiện cho em đi sâu nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Do thời gian và kiến thức có hạn nên chuyên đề tốt nghiệp chắc chắn sẽ có nhiều sai sót, vì vậy rất mong nhận được những nhận xét, đóng góp ý kiến cũng như sự chỉ bảo của các thầy cô. Em xin chân thành cảm ơn. Sinh viên thực hiện Cao Thị Thu Lành SVTH: Cao Thị Thu Lành GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mai Hương Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trang 3 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP: 1.Khái niệm, vai trò của vốn lưu động: 1.Khái niệm: Tài sản là toàn bộ tiềm lực kinh tế của đơn vị, biểu thị cho những lợi ích mà đơn vị thu được trong tương lai hoặc những tìm năng phục vụ cho hoạt động kinh doanh của đơn vị.
Nói cách khác tài sản là tất cả những thứ hữu hình hoặc vô hình gắn với lợi ích trong tương lai của đơn vị. Tài sản được chia thành hai loại: tài sản ngắn hạn (Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn) và tài sản dài hạn. Một doanh nghiệp không thể hoạt động nếu không có tài sản lưu động. Tài sản lưu động của doanh nghiệp bao gồm 2 bộ phận: Tài sản lưu động dùng trong hoạt động sản xuất và tài sản lưu động dùng trong lưu thông.
TSLĐ dùng trong quá trình sản xuất là những tài sản nằm trong quá trình dự trữ và quá trình sản xuất như: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng sửa chữa và thay thế, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm và các chi phí chờ kết chuyển. TSLĐ trong quá trình lưu thông là những tài sản dùng để lưu thông và tiêu thụ sản phẩm như: Thành phẩm và hàng hóa mua ngoài, vốn bằng tiền và các khoản vốn đầu tư ngắn hạn bằng chứng khoán, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản tạm ứng trong doanh nghiệp. Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định. Do vậy, để hình thành nên TSLĐ doanh nghiệp phải ứng ra một lượng vốn đầu tư vào loại tài sản này, số vốn đó gọi là vốn lưu động.
SVTH: Cao Thị Thu Lành GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mai Hương Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trang 4 Như vậy vốn lưu động của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn đầu tư của doanh nghiệp dùng để đầu tư, mua sắm TSLĐ dùng cho sản xuất và lưu thông để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên và liên tục. Vốn lưu động của Doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của Doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên và liên tục. Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị của chúng vào lưu thông và từ trong lưu thông toàn bộ giá trị của chúng được hoàn lại một lần sau một chu kỳ kinh doanh.Vai trò của vốn lưu động: Trước hết VLĐ là hình thái vật chất không thể thiếu được trong quá trình tái sản xuất. VLĐ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên và liên tục; nó là một phần trọng yếu trực tiếp hay gián tiếp để tạo nên thực thể của sản phẩm.
VLĐ có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh, trong cùng một lúc VLĐ được phân bổ trên các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có đủ vốn đầu tư vào các hình thức khác nhau đó. Bởi vì nếu lượng vốn lưu động không đủ đáp ứng thì việc tổ chức sử dụng vốn sẽ gặp khó khăn, cản trở, gây gián đoạn quá trình sản xuất và kinh doanh không đạt hiệu quả cao. Vì vậy đáp ứng nhu cầu VLĐ thông qua việc đầu tư đúng mức sẽ là một việc làm hết sức quan trọng, nhằm hướng tới mục tiêu chung là tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị của đơn vị.
Vốn lưu động còn là công cụ phán ánh và đánh giá quá trình vận động của vật tư, hàng hóa nằm trên các khâu sản xuất nhiều hay ít. Thật vậy, VLĐ nhiều hay ít là phản ánh số lượng vật tư, hàng hóa được sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, thời gian tiêu tốn cho dự trữ vật tư, hàng hóa tiêu thụ có hợp lý hay chưa? Cần SVTH: Cao Thị Thu Lành GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mai Hương Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trang 5 điều chỉnh lại như thế nào?.Hay nói cách khác, VLĐ phản ánh toàn diện quá trình mua sắm, dự trữ và tiêu thụ của doanh nghiệp. Ngoài ra VLĐ còn ảnh hưởng tới trạng thái sinh lời, rủi ro của doanh nghiệp một cách trực tiếp.Phân loại vốn lưu động: Trong doanh nghiệp VLĐ được phân bổ ở nhiều khâu và nhiều lĩnh vực đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh nên việc phân bổ và sử dụng hợp lý loại tài sản này có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì vậy việc phân loại VLĐ là nhằm để dễ dàng trong việc quản lý VLĐ từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ.Phân loại dựa vào hình thái biểu hiện: 1.Tiền: Tiền là tài sản của đơn vị tồn tại trực tiếp dưới hình thái giá trị.
Thuộc về tiền của đơn vị bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển kể cả tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý, ngân phiếu thanh toán… Tiền có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nó có tính thanh khoản rất cao đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng ngày của doanh nghiệp. Bỡi vậy doanh nghiệp cần phải tiến hành dự trữ lượng tiền thích hợp nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu cần thiết của doanh nghiệp. Tuy nhiên nếu lượng tiền dự trữ quá nhiều tuy đáp ứng ngay nhu cầu thanh toán nhưng cũng thể hiện vốn chưa đưa vào sản xuất kinh doanh để sinh lời. Ngược lại, vốn bằng tiền dự trữ quá ít thì cũng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, mất cơ hội đầu tư.
Do vậy nhà quản lý tài chính cần phải cân nhắc tính sinh lời cũng như rủi ro trong việc dự trữ tiền để đảm bảo hợp lý.Các khoản phải thu: Các khoản phải thu là khoản tiền doanh nghiệp phải thu từ các tổ chức, cá nhân, đây là số tài sản doanh nghiệp bị các tổ chức cá nhân khác tạm thời sử SVTH: Cao Thị Thu Lành GVHD: ThS.Nguyễn Thị Mai Hương Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trang 6 dụng do chính sách tín dụng bán hàng trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Xét theo khía cạnh tài chính, nếu doanh nghiệp thu hồi các khoản phải thu sẽ bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh.