CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH 1. Những vấn đề cơ bản về vốn kinh doanh và phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh 1. Một số khái niệm về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 1. Khái niệm về vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành các hoạt động kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng cần phải có được các yếu tố cần thiết như kho tàng, cửa hàng, văn phòng, nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện, vật tư, hàng hóa… Muốn có được các tài sản này, các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất định để đầu tư, mua sắm, thuê mướn… Do vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm và nghĩ đến là làm sao để có đủ vốn và phải sử dụng nó như thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất.
vậy vốn kinh doanh là gì? Theo quan điểm của Mark – nhìn dưới góc độ của các yếu tố sản xuất thì “vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Tuy nhiên mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan điểm của Mark. Cách hiểu này phù hợp với nền kinh tế sơ khai – giai đoạn kinh tế học mới xuất hiện và phát triển.
Theo cuốn “ kinh tế học” của David Begg cho rằng: Vốn là một loại hàng hóa nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hóa đã sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, hay tiền gửi ngân hàng….
Đất đai không được coi là vốn. Theo giáo trình Tài Chính Doanh Nghiệp PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, TS Bạch Đức Hiển – Học Viện Tài Chính: Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp. GVHD: SVTH: Đặng Thị Nhung 8 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Theo giáo trình phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại PGS.TS Trần Thế Dũng – Đại Học Thương Mại: Thì vốn kinh doanh là biểu hiện giá trị của những tài sản doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Một số quan niệm về vốn ở trên tiếp cận dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, trong điều kiện lịch sử khác nhau.
Vì vậy, để đáp ứng đầy đủ yêu cầu về hạch toán và quản lý vốn trong cơ chế thị trường hiện nay, có thể khái quát “Vốn là một phần thu nhập quốc dân dưới dạng vật chất và tài sản chính được các cá nhân, tổ chức bỏ ra để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích tối đa hóa lợi nhuận”. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là gì? Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mối quan hệ giữa “ kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”. Kết quả đầu ra Kết quả kinh doanh = Yếu tố đầu vào Về mặt định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Người ta chỉ thu được hiệu quả khi kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào.
Chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh doanh càng cao. Về mặt định tính: Hiệu quả kinh tế cao biểu hiện sự cố gắng nỗ lực, trình độ quản lý của mỗi khâu, mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp, sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu, mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị - xã hội. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Vốn là điều kiện cần cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp, nhưng chưa đủ để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường mục đích cao nhất của mọi doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chính là lợi nhuận. Điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải khai thác và sử dụng triệt để mọi nguồn lực sẵn có của mình, trong đó sử dụng có hiệu quả nguồn vốn là yêu cầu bắt buộc đối với mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
GVHD: SVTH: Đặng Thị Nhung 9 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Vậy ta có thể hiểu: hiệu quả sử dụng vốn là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm mục tiêu sinh lời tối đa với chi phí thấp nhất. Hiệu quả sử dụng vốn là một vấn đề phức tạp có liên quan tới tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh cho nên doanh nghiệp chỉ có thể nâng cao hiệu quả trên cơ sở sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình kinh doanh thì doanh nghiệp phải giải quyết được các vấn đề như: đảm bảo tiết kiệm, huy động thêm để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình và doanh nghiệp phải đạt được các mục tiêu đề ra trong quá trình sử dụng vốn của mình. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh được xác định bằng công thức: Kết quả từ hoạt động kinh doanh Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh = Vốn kinh doanh bình quân 1.
Một số vấn đề lý thuyết liên quan đến việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 1. Phân loại vốn kinh doanh Vốn kinh doanh có thể được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau cụ thể như sau. a, Căn cứ vào nguồn hình thành vốn: Về cơ bản, vốn kinh doanh được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp nó bao gồm vốn do chủ doanh nghiệp tự bỏ ra và phần vốn bổ sung được hình thành từ kết quả kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm = Giá trị tổng tài sản – Tổng nợ phải trả Trong đó, vốn chủ sở hữu này sẽ bao gồm các khoản: Với doanh nghiệp nhà nước thì đó là nguồn vốn do NSNN cấp ban đầu và cấp bổ sung, còn với doanh nghiệp tư nhân thì nguồn vốn này do chủ doanh nghiệp bỏ ra khi thành lập doanh nghiệp. Đối với Công ty cổ phần hoặc liên doanh thì nó sẽ bao gồm phần đóng góp GVHD: SVTH: Đặng Thị Nhung 10 Luan van Khóa luận tốt nghiệp của các chủ đầu tư hoặc các cổ đông. Phần lợi nhuận để tái đầu tư sau các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nợ phải trả: Bao gồm các khoản đi vay của các cá nhân hay tổ chức tín dụng dưới mọi hình thức hoặc do phát hành trái phiếu, các khoản phải trả người bán, trả cho Nhà nước, khoản người mua ứng trước, phải trả cho lao động trong doanh nghiệp.
b, Căn cứ vào đặc điểm lưu chuyển vốn: Dựa vào tiêu thức này, vốn kinh doanh được chia thành hai loại: Vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định của doanh nghiệp Vốn cố định: Là lượng vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên TSCĐ của doanh nghiệp. Quy mô của vốn cố định sẽ quyết định đến lượng TSCĐ được hình thành và ngược lại, đặc điểm hoạt động của TSCĐ sẽ chi phối đặc điểm luân chuyển của vốn cố định. Từ mối liên hệ này, ta có thể khái quát những đặc thù của vốn cố định như sau: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, điều này do đặc điểm của TSCĐ được sử dụng lâu dài, trong nhiều chu kỳ sản xuất quyết định.
Vốn cố định được luân chuyển giá trị dần dần từng phần trong các chu kỳ sản xuất, khi tham gia các chu kỳ sản xuất một bộ phận vốn cố định được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng với phần hao mòn của TSCĐ, một phần được cố định trong nó. Vốn cố định được tách thành hai bộ phận: Bộ phận thứ nhất tương ứng với giá trị hao mòn của tài sản cố định được chuyển vào giá trị sản phảm dướ hình thức chi phí khấu hao và được tích lũy thành quỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hóa được tiêu thụ. Quỹ khấu hao dùng để tái sản xuất TSCĐ. Trên thực tế khi chưa có nhu cầu đầu tư mua sắm TSCĐ các doanh nghiệp cũng có thể sử dụng linh hoạt quỹ này để đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình.
Bộ phận thứ hai tức là phần còn lại của vốn TSCĐ ngày càng giảm trong những chu kỳ sản xuất tiếp theo. Vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ kinh doanh. Trong các doanh nghiệp, vốn cố định là một bộ phận quan trọng và chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ vốn đầu tư nói riêng, vốn sản xuất kinh doanh nói GVHD: SVTH: Đặng Thị Nhung 11 Luan van Khóa luận tốt nghiệp chung. Quy mô của vốn cố định và trình độ quản lý sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh.
Do ở một vị trí then chốt và đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo tính quy luật riêng, nên việc quản lý vốn cố định có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động của doanh nghiệp: Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn bằng tiền được ứng ra để hình thành các tài sản lưu động sản xuất, tài sản lưu động lưu thông và một phần đê trả tiền công cho người lao động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện thường xuyên, liên tục. Tài sản lưu động sản xuất bao gồm ở khâu dự trữ sản xuất như: Nguyên liệu, vật liệu, công cụ, dụng cụ…TSLĐ ở khâu sản xuất như sản phảm đang chế tạo, bán thành phẩm. Các TSLĐ ở khâu lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí tả trước…Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động thay thế và đổi chỗ cho nhau đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục và thuận lợi.