phần mở đầu, mục lục, danh mục các chữ viết tắt, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu theo 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp; Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại; Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại PPC và các đề xuất kiến nghị với cơ quan quản lý cấp trên, với Chính phủ để hiệu quả SXKD của Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại ngày càng tốt hơn; 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về vốn kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm chung về vốn Vốn là yếu tố quan trọng đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một DN muốn tồn tại, phát triển và tăng trƣởng trƣớc hết phải đáp ứng đủ nhu cầu về vốn đầu tƣ. Vậy vấn đề đặt ra ở đây - Vốn là gì? Doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn thì đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình? Doanh ngiệp đã sử dụng vốn thế nào? Cơ cấu nguồn vốn có hợp lý không? Các nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng có phù hợp cơ cấu tài sản hay không?.Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn.
Vốn trong các DN là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, tức là mục đích tích lũy chứ không phải mục đích tiêu dùng nhƣ một vài quỹ tiền tệ khác trong các DN. Đứng trên các giác độ khác nhau ta có cách nhìn khác nhau về vốn nhƣ sau: Theo quan điểm của Mark, nhìn nhận dƣới giác độ của các yếu tố sản xuất thì ông cho rằng: Vốn chính là tƣ bản, là đem lại giá trị thặng dƣ, là một đầu vào của quá trình sản xuất. Tuy nhiên, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế bỏ qua các khu vực quan trọng khác trong nền kinh tế.
Đây là một hạn chế lớn trong quan điểm của Mark. Quan điểm của Nhà kinh tế học ngƣời Mỹ đạt giải Nobel về Kinh tế - Paul A.Samuelson một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế hiện đại cho rằng: Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hóa vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hóa lâu bền đƣợc sản xuất ra và đƣợc sử dụng nhƣ các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó. Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn.
Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Quan điểm của nhà Kinh tế học ngƣời Anh David Begg cho rằng: Vốn đƣợc phân theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính. Nhƣ vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Trong đó: 5 Vốn hiện vật: Là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác.
Vốn tài chính: Là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp. Ngoài ra, có nhiều quan niệm khác về vốn, nhƣng mọi quá trình sản xuất kinh doanh đều có thể khái quát thành: T - H (TLSX, SLĐ). H‟ - T‟ Để có các yếu tố đầu vào (TLSX, SLĐ) phục vụ cho hoạt động kinh doanh, DN phải có một lƣợng tiền ứng trƣớc, lƣợng tiền ứng trƣớc này gọi là vốn của DN. Nhƣ vậy: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận”.
Nhƣng tiền không phải là vốn. Nó chỉ trở thành vốn khi có đủ các điều kiện sau: Thứ nhất, Tiền phải đại diện cho một lƣợng hàng hóa nhất định hay nói cách khác, tiền phải đƣợc đảm bảo bằng một lƣợng hàng hóa có thực. Thứ hai, Tiền phải đƣợc tích tụ và tập trung đến một lƣợng nhất định. Có đƣợc điều đó mới làm cho vốn có đủ sức để đầu tƣ cho một dự án kinh doanh dù là nhỏ nhất.
Nếu tiền nằm ở rải rác các nơi mà không đƣợc thu gom lại thành một món lớn, thì cũng không làm gì đƣợc. Vì vậy, một dn muốn khởi điểm thì phải có một lƣợng vốn pháp định đủ lớn. Muốn kinh doanh tốt thì DN phải tìm cách gom tiền thành món lớn, để đầu tƣ vào phƣơng án sản xuất của mình. Thứ ba, khi có đủ lƣợng tiền phải đƣợc vận động nhằm mục đích sinh lời.
Từ những vấn đề trên, ta thấy vốn có một số đặc điểm sau: - Vốn là hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của vốn đƣợc thể hiện ở chi phí mà ta bỏ ra để có đƣợc nó. - Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó để đầu tƣ vào quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ mua máy móc, thiết bị vật tƣ, hàng hóa… - Vốn là hàng hóa đặc biệt vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu nó. Khi mua nó chúng ta chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó.
- Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ: Nó không bị bào mòn hữu hình trong quá trình sử dụng, mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó. 6 Chính vì vậy, giá trị của của nó phụ thuộc vào lợi ích cận biên của bất kỳ doanh nghiệp nào. Điều này đặt ra nhiệm vụ đối với các nhà quản trị tài chính, là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng dƣ tối đa, đủ chi trả cho chi phí đã bỏ ra mua nó nhằm đạt hiệu quả lớn nhất. - Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng vốn vô chủ.
- Vốn phải luôn luôn vận động sinh lời. - Vốn phải đƣợc tích tụ tập trung đến một lƣợng nhất định, mới có thể phát huy tác dụng để đầu tƣ vào SXKD (Phạm Quang Trung, 2012). Tùy vào đặc điểm SXKD của từng DN, mà có một lƣợng vốn nhất định. Để góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại DN, cần phân loại vốn để có biện pháp tổ chức quản lý tốt hơn.2 Phân loại vốn kinh doanh Doanh nghiệp hoạt động trong môi trƣờng kinh doanh có xu hƣớng toàn cầu hóa hiện nay thì vốn là cơ sở cho việc hình thành và phát triển kinh doanh của một DN.
Để triển khai các kế hoạch phục vụ cho SXKD doanh doanh nghiệp cần phải có một lƣợng vốn nhằm tạo nên những tài sản cần thiết cho hoạt động, để thực hiện thành công các mục tiêu DN đặt ra. Vốn kinh doanh là lƣợng tiền tệ đầu tƣ để phục vụ cho hoạt động SXKD của DN. Có thể hiểu là số tiền ứng trƣớc về toàn bộ tài sản hữu hình và vô hình. Vốn kinh doanh có ý nghĩa quyết định trong mọi hoạt động SXKD của bất kỳ DN nào.
Sau khi đã xây dựng đƣợc kế hoạch SXKD thì công việc kế tiếp là phải dự trù nguồn vốn cần thiết và lập kế hoạch huy động khả thi. Để tổ chức và huy động vốn một cách khả thi và có hiệu quả, chúng ta cần có sự phân loại nguồn vốn, qua đó chúng ta chọn lựa nguồn vốn thích hợp với khả năng huy động của đơn vị cũng nhƣ chi phí sử dụng vốn là thấp nhất có thể. Hiện nay thƣờng sử dụng ba phƣơng pháp nhƣ sau đƣợc áp dụng để phân loại vốn kinh doanh: Dựa vào quan hệ sở hữu: Dựa vào cách phân loại này có thể chia nguồn vốn DN gồm vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Hai nguồn này hình thành nên toàn bộ tài sản kinh doanh và đƣợc thể hiện qua công thức sau: 7 Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu Để đủ vốn và đảm bảo cho hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả cao, ngoài VCSH thì DN cần huy động thêm nguồn vốn nợ.
Trong giai đoạn trƣớc nguồn nợ chủ yếu từ vay hoặc tài trợ từ ngân hàng, các tổ chức tín dụng, thì hiện nay và cùng với xu thế của nền kinh tế, sự phát triển thị trƣờng vốn, nguồn nợ của DN còn có thêm nhiều hình thức nhƣ: Tự tài trợ vốn, Tín dụng thƣơng mại trong hoạt động kinh doanh (nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng), Liên doanh, liên kết, tín dụng thuê mua trong cơ chế kinh tế thị trƣờng, nợ nhà đầu tƣ thông qua phát hành trái phiếu. Việc huy động nguồn vốn nợ không chỉ vì VCSH không đáp ứng yêu cầu SXKD mà nó còn nằm trong bản chất cơ cấu nguồn vốn của DN. Để đo lƣờng hiệu quả đồng VCSH, một chỉ tiêu quan trọng bậc nhất là ROE (tỷ suất lợi nhuận trên VCSH) của yêu cầu kinh doanh. Trong trƣờng hợp kinh doanh đang hiệu quả, doanh nghiệp tăng nguồn nợ trong cơ cấu nguồn vốn sẽ làm tăng ROE, do vậy các nhà quản trị tài chính thƣờng áp dụng phƣơng thức này.
Tuy nhiên cũng cần lƣu ý rằng khi tỷ lệ nợ tăng lên quá cao doanh nghiệp sẽ dẫn tới mất an toàn về cơ cấu nguồn vốn, doanh nghiệp có thể đối diện với nguy cơ phá sản nếu tình hình sản xuất kinh doanh biến động do những tác động ngoài dự tính (Vũ Duy Hảo, Đàm Văn Huệ, 2009). Do vậy xác định một tƣơng quan hợp lý giữa VCSH và Nợ là một quyết sách quan trọng trong chính sách tài chính của bất kỳ doanh nghiệp nào, tỷ lệ này vừa đáp ứng yêu cầu SXKD của doanh nghiệp vừa đảm bảo tính cân đối hợp lý của ngành kinh doanh. Một tỷ lệ „đẹp‟ về cơ cấu vốn nợ trên tổng vốn có thể là 50%/50%, tức là nguồn VCSH và Nợ phải trả cân bằng nhau. Tỷ lệ nguồn vốn nợ có thể đến 80% đối với những ngành thƣơng mại dịch vụ có vòng quay vốn nhanh, và thƣờng có xu thế giảm đối với những ngành sản xuất có vòng quay vốn chậm.
Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn: Căn cứ vào tiêu thức này có thể chia nguồn vốn của DN ra làm hai loại, nguồn vốn thƣờng xuyên và nguồn vốn tạm thời.