mở đầu của mọi quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nó tạo ra những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển KT-XH: xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, nhà máy công xưởng, dây chuyền SX. và như vậy, đầu tư XDCB đòi hỏi cần một lượng vốn rất lớn. Quy mô vốn đầu tư lớn đòi hỏi phải có giải pháp huy động vốn hợp lý, xây dựng các chính sách, quy hoạch, kế hoạch đầu tư đúng đắn, đầu tư có trọng điểm và quản lý chặt chẽ vốn đầu tư.
Để đáp ứng yêu cầu đầu tư XDCB, các quốc gia - đặc biệt là các nước đang phát triển và các nước kém phát triên phải huy động tối đa các nguồn nội lực cũng như tìm các giải pháp tăng cường thu hút các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài (Vốn ODA, FDI, NGO. Hai là, thời ky đầu tư XDCB thường rat dài, qua nhiều công đoạn khác nhau. Việc thi công xây dựng thường không theo dây chuyền hàng loạt mà tuỳ theo các điều kiện địa chất tự nhiên và yêu cầu sử dụng dé có thiết kế xây dựng phù hợp. do đó trải qua thời gian dài mới đưa công trình vào khai thác sử dung.
Đặc điểm nay đòi hỏi trong quá trình đầu tư XDCB phải phân bé nguồn lực hợp lý, tập trung dau tư dứt điểm các hạng mục độc lập dé có thé nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Thứ ba, thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo đài, thời gian khai thác sử dụng các dự án thường là 20 năm, 30 năm hoặc lâu hơn tuy thuộc vào tính chất của từng dự án. Thời kỳ đầu tư dài và thời gian vận hành dự án kéo dài tạo nên độ trễ thời gian trong đầu tư. Đây là những đặc điểm riêng của đầu tư XDCB ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý đầu tư.
Thứ tư, các kết quả đầu tư XDCB thường phát huy tác dụng ở ngay nơi nó được xây dựng. Do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời gian đưa 12 công trình vào khai thác sử dụng chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. Không thé dễ dang di chuyển các công trình đã dau tư từ nơi này sang nơi khác, nên trong công tác quản lý hoạt động dau tư, đặc biệt là trong khâu chủ trương đầu tư và quyết định đầu tư cần đặc biệt lưu ý đặc điểm này. Cần khảo sát xác định nhu cau, nguồn cung cấp các yêu tô đầu vào và dự báo sự phát triển trong tương lai.
để xác định mục tiêu và quy mô đầu tư hợp lý làm cơ sở cho việc xác định chủ trương và có quyết định đầu tư đúng đắn. Bài học về việc thất bại trong đầu tư xây dựng các nhà máy mía đường của Việt Nam là một ví dụ điển hình cho việc không tôn trọng các đặc điểm của hoạt động đầu tư XDCB. Thứ năm, đầu tư nói chung và đầu tư XDCB nói riêng có độ rủi ro cao. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng dài.
nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư XDCB thường cao. Rủi ro do đầu tư có thể do nhiều nguyên nhân: do năng lực của chủ đầu tư và của nhà thầu kém, do chất lượng nguyên vật liệu kém hoặc do các nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, địch hoạ. Để hoạt động đầu tư XDCB có hiệu quả cần nhận diện rủi ro, xác định nguyên nhân để có giải pháp khắc phục phù hợp. Ngoài những đặc điểm của đầu tư XDCB nói chung thi đầu tư XDCB của NSNN còn có đặc điểm riêng, đó là quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư bị tách rời nhau.
Trong trường hợp này, vốn đầu tư thuộc quyền sỡ hữu của Nhà nước. Nhà nước là chủ thể có quyền chi phối và định đoạt nguồn vốn NSNN dành cho đầu tư XDCB, có thẩm quyền quyết định đầu tư; Song quyền sử dụng vốn đầu tư lại Nhà nước được giao cho một tô chức khác — đó là các Chủ đầu tư - người được Nhà nước giao trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng vốn đề thực hiện đầu tư theo quy định của pháp luật. 13 Xuất phát từ đặc điểm này mà trong quản lý vốn đầu tư XDCB từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước dễ bị thất thoát. Nếu các Chủ đầu tư, các Ban quản lý dự án không nâng cao tinh thần trách nhiệm, trình độ chuyên môn nghiệp vụ không đáp ứng được yêu cầu quản lý; Nhà nước không tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, và có chế tài xử phạt trách nhiệm thì thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB thuộc vốn NSNN là không thê tránh khỏi.
Phân loại DT-XDCB Theo những tiêu thức khác nhau có thé phân loại đầu tư XDCB thành nhiều loại khác nhau, sau đây là một số cách phân loại chủ yếu: Cách 1, dựa vào loại hình xây dựng, đầu tư XDCB được chia thành: - Đầu tư xây dựng mới: Là việc đầu tư để xây dựng những đối tượng hoàn toàn mới không gan liền với các cơ sở san có đang hoạt động. Day là hình thức tái sản xuất mở rộng TSCĐ. Nhờ hình thức này mà năng lực sản xuất được tăng lên cả về số lượng và chất lượng. - Đầu tư xây dựng mở rộng và đổi mới máy móc thiết bị: Là đầu tư dé mở rộng năng lực sản xuất hiện có đang hoạt động (đầu tư mở rộng), hoặc thay thế những máy móc cũ hiện có bằng những máy móc, thiết bị mới tiên tién hiện đại hơn (đổi mới máy móc thiết bị).
Đây cũng là hình thức tái sản xuất mở rộng TSCD và được gọi là đầu tư chiều sâu. - Đầu tư khôi phục: Là việc đầu tư nhằm khôi phục những đối tượng vốn đang hoạt động nhưng vì một lý do nào đó (thiên tai, chiến tranh v.) mà bị hư hỏng không hoạt động được nữa. Phân loại theo tiêu thức này giúp ta quan sát quá trình đầu tư trong mối quan hệ đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng, qua đó thấy được những nét chung về chất lượng tài sản cổ định và hiệu quả dau tư. Cách 2, theo lĩnh vực phát huy tác dụng, đầu tư XDCB bao gồm: Đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật chung của nền 14 kinh tế, đầu tư phát triển hạ tầng xã hội (Y tế, giáo dục.), đầu tư cho công nghiệp.
và đầu tư những lĩnh vực khác. Phân loại theo tiêu thức này là căn cứ dé xác định cơ cau đầu tư, quy mô vốn đầu tư, kết quả và hiệu quả đầu tư cho từng ngành, từng lĩnh vực trong nền kinh tế quốc dân. Cách 3, theo phân cấp quản lý, đầu tư XDCB được chia thành: đầu tư theo các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B và nhóm C. Trong đó, dự án quan trọng quốc gia do chủ đầu tư lập Báo cáo đầu tư trình quốc hội xem xét quyết định về chủ trương đầu tư, Thủ tướng quyết định đầu tư.
Các dự án còn lại không phải lập Báo cáo đầu tư, Bộ trưởng, thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW quyết định đầu tư. Cách 4, dựa vào mối quan hệ giữa người bỏ vốn và người quản lý sử dụng vốn, người ta phân đầu tư thành: - Đầu tư gián tiếp. - Đầu tư trực tiếp tiếp. Đầu tư gián tiếp: Là phương pháp đầu tư mà người bỏ vốn không tham gia trực tiếp vào việc quản trị công việc kinh doanh, sử dụng kết quả đối tượng đầu tư sau này.
Ở đây người đầu tư sẽ mua các chứng chỉ có giá trị như cỗ phiếu, chứng khoán ,trái khoán dé hưởng lợi tức, vì vậy còn gọi là đầu tư tài chính. Đầu tư trực tiếp là phương thức đầu tư mà người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản trị kinh doanh đối tượng do kết quả của vốn đầu tư XDCB tạo nên. Chức năng của đầu tư XDCB Đầu tư XDCB có một số chức năng sau: Một là, Chức năng năng lực: Chức năng năng lực là chức năng tạo ra năng lực mới của đầu tư XDCB. Các năng lực mới do đầu tư XDCB tạo ra có giá trị sử dụng cá thé và thông qua đó, các nhu câu cá thê được thoả mãn.
Vì vậy chức năng năng lực 15 được tạo ra khả năng đảm bảo duy trì hoặc phát triển sản xuất (ở vốn đầu tư vào khu vực 1 và khu vực 2) hoặc phát triển sản xuất sản phẩm dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cau cuối cùng (ở vốn dau tư vào khu vực 3) hoặc khả năng bảo vệ và cải tạo môi trường nhằm hạn chế khắc phục những ảnh hưởng xấu đến sản xuất và tiêu ding. Chức năng năng lực được coi là chức năng đầu tiên của đầu tư XDCB. Các chức năng khác được suy ra hoặc hỗ trợ cho chức năng này. Hai là, Chức năng thay thế.
Chức năng thay thé của đầu tư XDCB biểu hiện khả năng thay đôi từng tô hợp các nhân tố sản xuất và khả năng thay thé lẫn nhau của từng nhân tố nay do kết quả của quá trình đầu tư XDCB. Tuy nhiên, ý nghĩa của chức năng thay thế phải được biểu hiện ở tiết kiệm chỉ phí ở các khu vực sản xuất vật chất nhờ quá trình đầu tư XDCB thay thế hợp lý các nhân tố sản xuất mà đảm bảo tiết kiệm các chỉ phí sản xuất. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, chức năng thay thế của DT-XDCB ngày càng tăng lên (vì bản chất của nó chính là việc sử dụng vật liệu và công nghệ mới, cao cấp hơn thay thế các vật liệu cũ công nghệ hiện đang dùng) cùng với việc hướng dẫn nền kinh tế hướng vào loại hình phát triển chiều sâu mà đặc trưng là thay thế có hiệu quả các yếu t6 sản xuất. Ba là, Chức năng thu nhập và sinh lời: Chức năng thu nhập và sinh lời của đầu tư XDCB được xác định bởi khả năng tạo ra thu nhập và sinh lời do quá trình đầu tư XDCB mang lại.
Nó tạo ra và tăng thu nhập của từng chủ thé trong hệ thống kinh tế mà trước hết ảnh hưởng đến tăng thu nhập của các chủ đầu tư, các nhà thầu và qua kết quả đầu tư ảnh hưởng đến việc tăng lợi ích của toàn xã hội. Vai trò của đầu tư XDCB đối với tăng trưởng va phát triển Thứ nhất, đầu tư XDCB tác động đến tổng cung và tổng cầu của nền kính tế.