Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và lý luận chung về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC 4 CHƢƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Mục tiêu của bất cứ một doanh nghiệp nào cũng nhằm tối đa hóa giá trị tài sản của chủ sở hữu.Vì vậy, vấn đề tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp hiện nay. Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy đã có các công trình nghiên cứu cũng như nhiều tài liệu liên quan đến chủ đề nghiên cứu của mình. Có thể kể đến một số đề tài nghiên cứu sau: "Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần quản lý và xây dựng giao thông I Sơn La", Luận văn thạc sỹ 2013, lưu tại Đại học Kinh tế Quốc dân của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo.
Luận văn nghiên cứu về cơ sở lý luận, phân tích và đánh giá về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản, đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty. "Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Hàng Hải Hà Nội", Luận văn thạc sỹ 2008, lưu tại Đại học Kinh tế Quốc dân của tác giả Nguyễn Thị Thanh Dung. Nhận thức được vấn đề hiệu quả sử dụng tài sản có ý nghĩa to lớn không chỉ trong lý luận mà cả trong thực tiễn quản lý doanh nghiệp, tác giả đã nghiên cứu về cơ sở lý luận, phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản và đưa ra một số giải pháp cơ bản phù hợp với thực trạng tại Công ty. "Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Đầu tư và phát triển Cửu Long", Luận văn thạc sỹ 2013, lưu tại Đại học Kinh tế Quốc dân của tác giả Đỗ Thùy Trang.
Tác giả đã nghiên cứu lý thuyết về tài sản và 5 hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty, đồng thời đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty. "Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Công nghiệp Thiên Phú", Luận văn thạc sỹ 2014, lưu tại Đại học Kinh tế Đại học quốc gia Hà Nội của tác giả Trần Văn Đạt. Qua phân tích, tác giả đã đưa ra được các giải pháp chung về hiệu quả sử dụng tài sản tại công ty như: tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ; tăng cường huy động vốn, thiết lập và duy trì cơ cấu vốn tối ưu; tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường nước ngoài. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra một số giải pháp cụ thể cho việc sử dụng tài sản ngắn hạn và dài hạn.
Nội dung chủ yếu của các nghiên cứu trên là hệ thống hóa các lý luận cơ bản về tài sản của doanh nghiệp, phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Điểm mạnh của những nghiên cứu này là đã tiếp tục hoàn thiện khung lý thuyết về tài sản của doanh nghiệp, các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản doanh nghiệp và đánh giá thực trạng sử dụng tài sản của các công ty qua các giai đoạn phát triển khác nhau; đưa ra một số giải pháp giúp doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về hiệu quả sử dụng tài sản vẫn còn tồn tại một số hạn chế như các giải pháp đưa ra chưa đi sâu nhấn mạnh vào các đặc điểm cụ thể theo đặc thù hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, vẫn mang tính lý thuyết chung. Do mỗi một đơn vị, doanh nghiệp có đặc trưng, loại hình hoạt động khác nhau, trong không gian và thời gian khác nhau nên việc đưa ra các giải pháp sử dụng hiệu quả tài sản cũng là không giống nhau.
Vì vậy, trong luận văn nghiên cứu này, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản thực tế tại Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC trong giai đoạn hiện nay trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng 6 kinh tế, sự sụt giảm liên tục của ngành bất động sản và trước những chính sách thắt chặt chi tiêu đầu tư công của Chính phủ. Từ đó, hi vọng sẽ đưa ra được các giải pháp thích hợp để nâng cao hiệu quả tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Bạch Đằng TMC.2 Lý luận chung về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp Bất cứ một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trường đều phải có tài sản, đó là cơ sở và là điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vậy tài sản được hiểu như thế nào? Theo Tiêu chuẩn số 12- Phân loại tài sản, Hệ thống tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Theo quy định tại Điều 163, Bộ luật Dân sự năm 2005, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá (như trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu,…) và các quyền tài sản (như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng, quyền đòi nợ, quyền được nhận số tiền bảo hiểm đối với vật bảo đảm, quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng,…) Theo Chuẩn mực kế toán số 01- Chuẩn mực chung (Ban hành và công bố theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính): Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyển, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyển kiểm soát của doanh nghiệp. Trong đó: Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. 7 Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản. Quyền kiểm soát đối với một nguồn lực kinh tế là khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng lợi ích kinh tế do nguồn lực đó mang lại nhằm đạt mục tiêu của doanh nghiệp, hoặc quyền từ chối hay điều khiển việc sử dụng lợi ích kinh tế từ nguồn lực đó đối với doanh nghiệp khác.
Thông thường những nguồn lực kinh tế thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thì cũng thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Tuy nhiên, có những những nguồn lực kinh tế không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, nhưng thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp và có thể mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp trong tương lai thì vẫn được xem là tài sản của doanh nghiệp. Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của đơn vị hoặc làm g iảm bớt các khoản tiền mà đơn vị phải chi ra. Như vậy, ta có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực thực có của doanh nghiệp, bao gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp đó.
Phân loại tài sản của doanh nghiệp Một trong những nội dung chính của hoạt động tài chính doanh nghiệp đó là đầu tư vào loại tài sản nào và phương thức doanh nghiệp sẽ mua sắm tài sản như thế nào cho phù hợp. Để đạt được điều đó thì doanh nghiệp phải xác định được mức độ quan trọng của từng loại tài sản, từ đó mới có thể phân bổ mức đầu tư hợp lý và hiệu quả nhất. Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khác nhau mà có nhiều cách thức phân loại tài sản của doanh nghiệp như sau: - Phân loại theo chu kỳ sản xuất: Tài sản cố định và tài sản lưu động; 8 - Phân loại theo đặc tính cấu tạo vật chất: Tài sản hữu hình và tài sản vô hình; - Phân loại theo kết cấu: Tài sản dài hạn và tài sản ngắn hạn. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tìm hiểu sâu hơn về cách thức phân loại tài sản theo kết cấu bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp đó là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.
Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi, luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn gồm: * Tiền và các khoản tương đương tiền: Tiền được hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Tiền và các khoản tương đương tiền có thể tăng hoặc giảm không phải do thiếu tiền (hay ứ đọng) mà có thể do doanh nghiệp đang có kế hoạch tập trung tiền để chuẩn bị đầu tư vào một số lĩnh vực kinh doanh hay mua sắm vật tư, tài sản.
* Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào, bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm. * Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dưới một năm. 9 * Hàng tồn kho: Là những tài sản dự trữ cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng hoá, thành phẩm, sản phẩm dở dang.