phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng : Chƣơng 1: Lý luận chung về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 4 Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Hà 5 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI SẢN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và phân loại tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản Khái niệm về tài sản đã đƣợc đƣa ra từ rất sớm. Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của xã hội loài ngƣời, tài sản có một phạm vi khác nhau nhƣng đều là công cụ đáp ứng nhu cầu sống của con ngƣời.
Vì vậy nó đƣợc nhận thức không mấy khác nhau ở các hệ thống pháp luật. Ngƣời ta chỉ có thể nhận thức đầy đủ về nó qua phân loại. Luật La Mã phân chia tài sản thành vật chất liệu và tài sản phi chất liệu – đó là các quyền. Bản thân các quyền này đƣợc chia thành hai loại là quyền thiết lập trên vật chất liệu và các quyền có giá trị kinh tế đối với ngƣời khác.
Vật chất liệu đƣợc chia thành hai loại là bất động sản và động sản. Deluxe Back’s Law Dictionary giải nghĩa: Tài sản là một từ đƣợc sử dụng chung để chỉ mọi thứ là đối tƣợng của quyền sở hữu, hoặc hữu hình, hoặc vô hình, hoặc bất động sản hoặc động sản. Ở Việt Nam, Điều 163, Bộ luật Dân sự 2005 giải nghĩa: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Đối với doanh nghiệp, tài sản giữ một vai trò quan trọng quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp sử dụng hiệu quả tài sản sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng. Tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Có nhiều tiêu chí để phân loại tài sản của doanh nghiệp tùy thuộc vào định hƣớng nghiên cứu, mục đích nghiên cứu,… của tác giả: * Phân loại theo thời gian luân chuyển Tài sản của doanh nghiệp đƣợc phân loại theo tiêu chí thời gian luân chuyển thành tài sản ngắn hạn (TSNH) và tài sản dài hạn (TSDH). Đây là cách phân loại mà luận văn đi sâu phân tích.
Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Khi sử dụng, chúng đƣợc tiêu hao hoàn toàn vào quá trình sản xuất trong một lần chu chuyển, thay đổi hình thái vật chất và chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm đƣợc sản xuất ra. * Tài sản ngắn hạn có những đặc điểm sau: - Thứ nhất, tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng đƣơc khả năng thanh toán của doanh nghiệp. - Thứ hai, khi tham gia vào sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn luôn vận hành, thay thế và chuyển hóa nhau qua các công đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh.
- Thứ ba, tài sản ngắn hạn dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ dễ dàng mà không chịu chi phí lớn. Tuy nhiên, điều này lại gây khó khăn cho quản lý, chống thất thoát. - Thứ tƣ, tài sản ngắn hạn thƣờng chỉ tham gia vào một chu kỳ kinh doanh. Chính đặc điểm này đòi hỏi doanh nghiệp phải duy trì một lƣợng vốn ngắn hạn nhất định để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành liên tục.
7 - Thứ năm, không nhƣ đầu tƣ vào tài sản dài hạn, các khoản đầu tƣ cho tài sản ngắn hạn thƣờng có thể hủy bỏ bất cứ thời điểm nào mà không phải chịu chi phí tốn kém. Điều đó có đƣợc là do, tài sản ngắn hạn đáp ứng nhanh chóng sự biến động của doanh số và sản xuất. Đổi lại, tài sản ngắn hạn thƣờng chịu sự lệ thuộc khá nhiều vào những dao động mang tính mùa vụ và chu kỳ trong kinh doanh. - Thứ sáu, lợi nhuận đầu tƣ vào tài sản ngắn hạn là lợi nhuận gián tiếp.
* Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp gồm: - Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền: Tiền đƣợc hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tƣơng đƣơng tiền là các khoản đầu tƣ ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. - Các khoản đầu tƣ tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tƣ chứng khoán có thời hạn thu hồi dƣới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (nhƣ: tín phiếu kho Bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tƣ tài chính khác không quá một năm. - Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dƣới một năm.
- Hàng tồn kho: bao gồm toàn bộ hàng hóa vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xƣởng nhƣ: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, vật liệu bổ trợ, nhiên liệu, thành phẩm, sản phẩm dở dang và bán thành phẩm, công cụ dụng cụ… - Tài sản ngắn hạn khác: bao gồm các khoản tạm ứng, chi phí chờ kết chuyển… 8 1. Tài sản dài hạn Tài sản dài hạn là những tài sản là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển lớn hơn một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. * Tài sản dài hạn có những đặc điểm chính sau: - Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Tính thanh khoản của TSDH kém hơn TSNH nhƣng giá trị TSDH thƣờng ổn định hơn.
- TSDH khi chuyển từ dạng vật chất sang tiền khó khăn hơn TSNH và trong nhiều trƣờng hợp yêu cầu phải bỏ ra chi phí nhƣ chi phí nhƣợng bán, chi phí môi giới,. - Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh một phần TSDH chuyển hoá vào giá thành sản phẩm, bộ phận này sẽ đƣợc bù đắp và tích luỹ khi hàng hoá hoặc dịch vụ đƣợc tiêu thụ. Bộ phận còn lại nằm ở TSCĐ dƣới hình thái giá trị còn lại của TSCĐ. - Các khoản đầu tƣ vào TSDH không thể huỷ ngang hoặc sẽ mất chi phí khi muốn huỷ ngang.
Nguyên nhân là do tính thanh khoản của TSDH thấp hơn TSNH. Nhƣng chính nhờ đặc điểm này mà TSDH thƣờng ổn định hơn, ít chịu ảnh hƣởng bởi những dao động mang tính mùa vụ và chu kỳ trong kinh doanh. * Tài sản dài hạn của doanh nghiệp gồm: Tài sản tài chính dài hạn: Là các khoản đầu tƣ vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trong thời gian trên một năm và các loại đầu tƣ khác vƣợt quá thời hạn trên một năm. Có thể nói tài sản tài chính dài hạn là các khoản vốn mà doanh nghiệp đầu tƣ vào các lĩnh vực kinh doanh, ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 9 trong thời hạn trên một năm nhằm tạo ra nguồn lợi tức lâu dài cho doanh nghiệp.
Cụ thể, tài sản tài chính dài hạn bao gồm: - Các chứng khoán dài hạn: Phản ánh giá trị các khoản đầu tƣ cho việc mua bán các cổ phiếu và trái phiếu có thời hạn trên một năm và có thể bán ra bất cứ lúc nào với mục đích kiếm lợi nhuận. Bao gồm: + Cổ phiếu doanh nghiệp: Là chứng chỉ xác nhận vốn góp của chủ sở hữu vào doanh nghiệp đang hoạt động hoặc bắt đầu thành lập. Doanh nghiệp mua cổ phần đƣợc hƣởng lợi tức cổ phần (cổ tức) căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhƣng đồng thời chủ sở hữu vốn cũng phải chịu rủi ro khi doanh nghiệp đó bị thua lỗ, giải thể hoặc phá sản theo Điều lệ của doanh nghiệp và luật phá sản của doanh nghiệp. Cổ phần doanh nghiệp có thể có cổ phần thƣờng và cổ phần ƣu đãi.
Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần. + Trái phiếu: là chứng chỉ vay nợ có kỳ hạn và có lãi do Nhà nƣớc hoặc doanh nghiệp hay các tổ chức, cá nhân phát hành nhằm huy động vốn cho việc đầu tƣ phát triển. Có 3 loại trái phiếu: Trái phiếu Chính phủ: là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành dƣới các hình thức: Trái phiếu kho Bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu xây dựng Tổ quốc. Trái phiếu địa phƣơng: là chứng chỉ vay nợ của các chính quyền Tỉnh, Thành phố phát hành.
Trái phiếu Công ty: là chứng chỉ vay nợ do doanh nghiệp phát hành nhằm vay vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh và đổi mới trang thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp. Giá trị chứng khoán đầu tƣ dài hạn đƣợc xác định là giá thực tế (giá gốc) bằng giá mua + các chi phí thu mua (nếu có), nhƣ: Chi phí môi giới, giao dịch, lệ phí, thuế và phí ngân hàng. 10 - Các khoản góp vốn liên doanh: góp vốn liên doanh là một hoạt động đầu tƣ tài chính mà doanh nghiệp đầu tƣ vốn vào một doanh nghiệp khác để nhận kết quả kinh doanh và cùng chịu rủi ro (nếu có theo tỷ lệ vốn góp). Vốn góp liên doanh của doanh nghiệp, bao gồm tất cả các loại tài sản, vật tƣ, tiền vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp kể cả vốn vay dài hạn dùng vào việc góp vốn kinh doanh.
Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn sau: Một là phải có thời gian sử dụng trên 1 năm hoặc một kỳ sản xuất kinh doanh (nếu trên 1 năm) Hai là phải đạt một giá trị tối thiểu ở một mức quy định. Tài sản cố định đƣợc phân loại dựa trên các tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.