CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm của tài sản ngắn hạn 1.
Khái niệm tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là tổng giá trị tiền, các khoản khác tương đương tiền, khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, khoản phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn được bán hoặc sử dụng trong thời gian không quá 12 tháng. Tài sản ngắn hạn tại doanh nghiệp hiện nay rất quan trọng bởi khoản mục này thường được các chủ doanh nghiệp sử dụng rất thường xuyên. Những tài sản ngắn hạn này thường được dùng để chi trả các chi phí phát sinh khác nhau trong quá trình vận hành của các doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn chiếm tỷ lệ từ 25% - 50% tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp.
Đây là một tỷ lệ tương đối cao. Chính vì thế, việc hiệu quả sử dụng và sử dụng tài sản như thế nào cho hợp lý có tác động rất quan trọng đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, tài sản ngắn hạn cũng là thước đo phản ánh tình hình biến động về kinh doanh của một doanh nghiệp. Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp Tài sản ngắn hạn là bộ phận không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chúng tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra sản phẩm, dịch vụ, đảm bảo hoạt động diễn ra liên tục, thông suốt. Trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng lớn. Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Tài sản ngắn hạn có tính chất thay đổi hình thái biểu hiện liên tục trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh.
Vì là ngắn hạn nên nó có thể được chuyển hóa từ tiền tệ sang vật chất và ngược lại. Đặc biệt mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau sẽ có những hình thái về tài sản ngắn hạn là không giống nhau. Một số hình thái chính của tài sản ngắn hạn bao gồm tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa) có giá trị, dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu, trái phiếu, cổ phiếu. Tài sản ngắn hạn có độ rủi ro thấp, nhanh chóng thích nghi với sự biến động lên xuống của sản xuất và doanh số.
Nguyên nhân là do những khoản đầu tư cho tài sản ngắn hạn có thể được hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không mang lại quá nhiều tổn thất về kinh tế tài chính. 1 Đặc điểm nổi bật của tài sản ngắn hạn là luân chuyển nhanh trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh. Chúng dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh toán. Tuy nhiên, tính thanh khoản cao cũng khiến tài sản ngắn hạn vận động phức tạp, khó kiểm soát.
Nhờ tính chất linh hoạt, tài sản ngắn hạn giúp doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh liên tục, tránh lãng phí nguồn lực. Chúng cũng đảm bảo khả năng thanh toán nợ và sinh lời cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc quản lý tài sản ngắn hạn đòi hỏi sự chú trọng, nhất là đối với hàng tồn kho. Khi lượng hàng tồn kho tăng quá mức cần thiết sẽ gây lãng phí chi phí cất trữ, vốn bị kẹt.
Ngược lại, nếu hàng tồn kho không đủ cung cấp cho sản xuất sẽ dẫn tới gián đoạn, mất mát về chi phí cơ hội. Trong suốt quá trình sản suất kinh doanh của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn luôn được vận động, chuyển hóa không ngừng và phân bổ trong tất cả công đoạn, khâu của hoạt động sản xuất, kinh doanh với tư cách là tư liệu lao động hay đối tượng người tiêu dùng lao động nhằm mục đích bảo đảm quá trình kinh doanh, sản xuất được diễn ra liên tục để tránh được những tổn thất do ngừng sản xuất bất ngờ. Phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Việc sử dụng hay hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nếu như muốn kiểm soát hay tiến hành một cách khoa học và hiệu quả luôn đòi hỏi người thực hiện nắm rõ các thành phần và kết cấu. Tùy theo tính chất vận động cũng như yêu cầu hiệu quả sử dụng mà tài sản dài hạn sẽ có những cách phân loại khác nhau.
Thông thường người ta sẽ phân loại theo các cách chính như sau: 1. Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuất kinh doanh −Tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ: Nguyên vật liệu chính: nguyên vật liệu khi tham gia vào sản xuất, chúng cấu tạo nên thực thể sản phẩm. Nguyên vật liệu phụ: nguyên vật liệu không đóng vai trò chủ yếu tạo nên sản phẩm, góp phần làm cho sản phẩm bền đẹp hơn. Nhiên liệu, phụ tùng thay thế: nhiên liệu, phụ tùng thay thế sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp.
Công cụ, dụng cụ: tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất nhưng có giá trị thấp, không đủ tiêu chuẩn trở thành tài sản cố định. −Tài sản nằm trong khâu sản xuất: Sản phẩm dở dang: toàn bộ những sản phẩm chưa chế tạo xong, còn nằm trên dây chuyền sản xuất hoặc trong kho. 2 Bán thành phẩm: sản phẩm dở dang đã kết thúc một vài quy trình biến đổi nhưng cần được biến đổi tiếp qua một vài quy trình mới trở thành sản phẩm. Chi phí chờ kết chuyển: các chi phí liên quan đến nhiều kỳ sản xuất kinh doanh, được phân bổ vào chi phí sản xuất các kỳ nhằm đảm bảo giá thành ổn định.
−Tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông: Thành phẩm: tổng số sản phẩm đã hoàn thành, nhập kho và chờ tiêu thụ. Hàng hóa mua ngoài: hàng hóa được mua từ bên ngoài doanh nghiệp. Hàng hóa gửi bán: các sản phẩm được gửi bán tại đại lý nhưng chưa được khách hàng chấp nhận. Tiền: bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, các khoản ký cược, ký quỹ, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn v.
Các khoản vốn dùng trong thanh toán: bao gồm các khoản phải thu khách hàng, tạm ứng phát sinh trong quá trình mua bán v. Hình thức phân loại này cho ta biết vai trò của các tài khoản, dựa vào đó, nhà quản lý điều chỉnh cơ cấu tài sản hợp lý và có biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. Theo hình thái biểu hiện Tiền và các khoản tương đương tiền Tiền: là tài sản tồn tại trực tiếp dưới dạng giá trị, bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả thuế, trả nợ… Đây là loại tài sản đặc biệt của doanh nghiệp.
Nó có tính chất là loại tài sản có tính lỏng cao nhất và được sử dụng tức thời để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi doanh nghiệp có dòng tiền ra. Ngoài ra, tiền mặt là loại tài sản có tỷ lệ sinh lời rất thấp. Các khoản tương đương tiền: Chỉ tiêu này phản ánh các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi không quá 3 tháng kể từ ngày đầu tư có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có rủi ro trong việc chuyển đổi thành tiền tại thời điểm báo cáo. Bên cạnh đó, khi dư thừa tiền mặt, doanh nghiệp đầu tư vào các loại chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao để sinh lời tốt hơn.
Khi cần, những tài sản tài chính này cũng dễ dàng chuyển đổi lại thành tiền mặt để sử dụng. Sơ đồ luân chuyển tiền mặt (Theo Giáo trình Tài chính doanh nghiệp của PGS.TS Lưu Thị Hương) Đầu tư ngắn hạn: Là hoạt động dùng tiền vốn để mua các chứng khoán có giá trị với mục đích hướng lãi hoặc bỏ vốn vào các doanh nghiệp khác dưới hình thức góp vốn liên doanh mua cổ phần với tư cách là một thành viên tham gia quản lý và điều hành công ty liên doanh, công ty cổ phần nhằm chia sẻ lợi ích và trách nhiệm với doanh nghiệp khác trong thời gian không quá 12 tháng. Các khoản phải thu: Các khoản phải thu bao gồm giá trị các sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đã cung cấp cho khách hàng nhưng chưa thu được tiền. Chúng được chia thành phải thu ngắn hạn (dưới 12 tháng) và dài hạn.
Việc cho khách hàng mua trả chậm chính là hình thức tín dụng thương mại phổ biến, vừa giúp doanh nghiệp mở rộng khách hàng nhưng cũng tiềm ẩn những rủi ro nhất định. Để hạn chế rủi ro, các nhà quản trị cần xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, bao gồm phân tích tín dụng khách hàng, đánh giá mức độ rủi ro và khả năng trả nợ. Sau khi cấp tín dụng, doanh nghiệp cần giám sát chặt chẽ các khoản phải thu, tính toán thời gian thu hồi bình quân, dự phòng nợ khó đòi. Nhờ đó, nguồn vốn phải thu được sử dụng hiệu quả, góp phần làm tăng lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo an toàn tài chính.
Hàng tồn kho: Là những tài sản hữu hình thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp được sử dụng vào sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện lao vụ, dịch vụ, hàng hóa để gửi bán hoặc gửi đi bán trong kỳ kinh doanh. Hàng tồn kho cũng là một khoản mục tài sản quan trọng của doanh nghiệp. Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang và thành phẩm để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Không thể mua 4 nguyên vật liệu theo kiểu "xin-cho" mà cần dự trữ một lượng nhất định để đảm bảo sản xuất ổn định.
Tuy nhiên, nếu dự trữ quá nhiều sẽ lãng phí chi phí cất trữ, vốn bị kẹt trong kho. Do đó, việc kiểm soát chặt chẽ lượng hàng tồn kho, điều chỉnh sao cho phù hợp với nhu cầu sản xuất là vô cùng cần thiết. Đối với các doanh nghiệp thương mại thì hàng tồn kho chủ yếu là dự trữ hàng hóa để bán. Ngoài các khoản phải thu và hàng tồn kho, tài sản lưu động của doanh nghiệp còn bao gồm các khoản tạm ứng cho nhân viên, chi phí trả trước ngắn hạn, ký quỹ, ký cược.
Việc quản lý tốt các khoản này góp phần tăng hiệu quả hoạt động và khả năng thanh toán cho doanh nghiệp.