CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. TÀI SẢN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về doanh nghiệp 1. Khái niệm Theo M.Francois Perroux, “Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy”.A Caillat (1992), “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được”. Theo luật doanh nghiệp của Việt Nam năm 2014 “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Như vậy, từ những cách nhìn nhận trên doanh nghiệp được hiểu là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông qua đó tối đa hóa lợi nhuận của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục tiêu xã hội. Phân loại doanh nghiệp Căn cứ vào tính sở hữu doanh nghiệp được chia thành: Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tập thể.
4 Doanh nghiệp Nhà nước: Là tổ chức do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. Doanh nghiệp Nhà nước có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp tư nhân: Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tập thể (hợp tác xã): Là tổ chức kinh tế tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo những qui định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Căn cứ theo tiêu thức về phương thức đầu tư vốn, doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài). Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước: Là doanh nghiệp do nhà đầu tư trong nước thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam hoặc là doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại. Hiện nay các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty hợp danh, Công ty liên doanh, doanh nghiệp tư nhân.
Công ty cổ phần: Là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Công ty TNHH: Là loại hình doanh nghiệp có tư cách pháp nhân được pháp luật thừa nhận. Chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng biệt.
Trước pháp luật, công ty là pháp nhân, chủ sở hữu công ty là thể nhân với các quyền và 5 nghĩa vụ tương ứng với quyền sở hữu công ty. Công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp có không quá 50 thành viên cùng góp vốn thành lập và công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài chính khác trong phạm vi nghĩa vụ tài sản của công ty. Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung (gọi là thành viên hợp danh), ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Công ty liên doanh: Là một loại hình hợp tác giữa Nhà đầu tư trong nước và Nhà đầu tư nước ngoài để cùng nhau thực hiện dự án chung. Tài sản của doanh nghiệp Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào, khi tiến hành hoạt động kinh doanh, mục tiêu duy nhất là tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị doanh nghiệp hay mục tiêu tăng trưởng. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là các hoạt động trao đổi, là quá trình chuyển biến các tài sản trong doanh nghiệp theo chu trình Tiền – Tài sản – Tiền. Tài sản trong doanh nghiệp được phân ra làm hai loại là Tài sản cố định (TSCĐ) và tài sản lưu động (TSLĐ).
a) Tài sản cố định TSCĐ của doanh nghiệp là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài và thỏa mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn của TSCĐ: Thứ nhất, chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó Thứ hai, nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy Thứ ba, thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm Thứ tư, có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành. Xuất phát từ sự tham gia của TSCĐ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, TSCĐ mang các đặc điểm sau: Tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, 6 giá trị của TSCĐ được chuyển dịch dần từng phần trong mỗi chu kỳ kinh doanh vào giá trị của sản phẩm, và toàn bộ giá trị TSCĐ được thu hồi khi TSCĐ hết hạn sử dụng. Trong doanh nghiệp, có rất nhiều loại tài sản cố định với hình thái biểu hiện, công dụng, tính năng khác nhau. Nếu không phân loại và sắp xếp thành các nhóm, nhà quản lý khó có thể sử dụng và khai thác tối đa các tài sản của doanh nghiệp.
Vì vậy, TSCĐ được phân chia theo các tiêu thức như sau: Phân loại theo hình thái biểu hiện, TSCĐ bao gồm tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. Phân loại theo công dụng kinh tế, TSCĐ bao gồm Nhà cửa, vật kiến trúc; Máy móc, thiết bị; Phương tiện vận tải, thiết bị dẫn truyền; Thiết bị, dụng cụ quản lý; Vườn cây lâu năm. Phân loại theo mục đích sử dụng, TSCĐ được chia thành tài sản cố định phục vụ cho mục đích kinh doanh và tài sản cố định phục vụ cho hoạt động phúc lợi, an ninh quốc phòng. Phân loại theo tình hình sử dụng, TSCĐ được chia thành bốn nhóm: Tài sản cố định đang dùng, tài sản cố định chưa cần dùng, tài sản cố định không cần dùng và tài sản cố định chờ thanh lý.
b) Tài sản lưu động Tài sản lưu động là loại tài sản có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiệp, quyết định trực tiếp đến tính liên tục ổn định trong kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Tài sản lưu động là những đối tượng lao động, tham gia toàn bộ và luân chuyển giá trị một lần vào giá trị sản phẩm. Tài sản lưu động luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lần nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục. Tóm lại, tài sản lưu động đóng vai trò quan trọng như thế nào trong doanh nghiệp sẽ được nghiên cứu cụ thể hơn trong các mục tiếp theo.
Tài sản lưu động của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản lưu động Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cần phải có 4 yếu tố là: đối tượng lao động, tư liệu lao động, sức lao động và thông tin. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ. Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động (nhiên, nguyên, vật liệu, bán thành phẩm,…) chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện.
Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là tài sản lưu động. Tài sản lưu động là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc kế toán năm được gọi là tài sản lưu động. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn thanh toán trước một chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc kế toán năm được gọi là tài sản lưu động.
Vậy có thể nói tài sản lưu động là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, thu hồi, hoặc luân chuyển giá trị trong vòng một năm, hoặc một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu. Đặc điểm của tài sản lưu động TSLĐ được phân bố đủ trong các khâu dự trữ - sản xuất – lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định, tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản.