CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là tất cả các cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào của tổ chức, doanh nghiệp nhằm đạt được những thành quả của tổ chức, doanh nghiệp đó đề ra.
Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành từ các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của nó. Theo định nghĩa của Liên hợp quốc trong đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đến nguồn nhân lực (2009): “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế, xã hội trong một cộng đồng”.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh, ( Đại học Kinh tế Quốc dân), (2008), Giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực: “ Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. Tổng quát: Nguồn nhân lực là bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động và tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, khả năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức lao động nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế xã hội nhất định.
Nguồn nhân lực trong tổ chức Khi nói đến NNL trong một tổ chức, được hiểu đó là tổng số lao động làm việc trong một tổ chức. Đây là lực lượng lao động ( cả số lượng và chất lượng) mà tổ chức sử dụng để duy trì và phát triển hoạt động theo chương trình, kế hoạch đề ra theo từng thời gian. NNL trong một tổ chức chính là những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về vật chất và tinh thần của họ được huy SVTH: Nguyễn Thị Thu Thủy 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh động vào quá trình lao động, là mọi cá nhân tham gia vào bất cứ hoạt động nào của một tổ chức. Tổ chức đó có thể là một ngành, một đơn vị sản xuất king doanh, dịch vụ, hoặc một cơ quan,… Bằng sức lao động cùng với các hoạt động nhận thức, tình cảm, hoạt động,… các thành viên trong tổ chức đã sử dụng công cụ lao động kết hợp với các yếu tố khác tác dụng vào đối tượng lao động để tạo ra hàng hóa hoặc dịch vụ.
Đó chính là sức mạnh vật chất của NNL. Mặt khác tổ chức hoạt động như một cơ thể sống, phản ánh sức sống tinh thần thông qua văn hóa nghề nghiệp trong tổ chức, được tạo nên bởi truyền thống, tập quán, lễ nghi và nghệ thuật ứng xử trong tập thể lao động. Vai trò của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp: Nguồn nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới sáng tạo ra các loại hàng hóa, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó.
Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn- con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu. Nguồn nhân lực là nguồn nhân lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng: Nguồn nhân lực có tính năng động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng.
Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận: Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Các đặc trưng cơ bản của nguồn nhân lực 1. Số lượng nguồn nhân lực SVTH: Nguyễn Thị Thu Thủy 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực.
Quy mô dân số càng lớn, tốc độ tăng dân số chậm dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng ít. Quy mô dân số biểu thị khái quát tổng số dân của một vùng, một nước hay của các khu vực khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên quy mô dân số thường xuyên biến động theo thời gian, nó có thể tăng hoặc giảm tùy theo các biến số cơ bản nhất như số người được sinh ra, số người chết đi hằng năm, tỷ lệ di dân cư (thể hiện ở số người đến và đi). Mối quan hệ giữa dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện qua một thời gian nhất định,vì ở độ tuổi đó con người mới phát triển đầy đủ, mới có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện ở mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực và trí lực.TS Nguyễn Tiệp, (2011), Giáo trình nguồn nhân lực, Đại học Lao động – Xã hội: “ Chất lượng NNL là khái niệm tổng hợp về những người thuộc NNL được thể hiện ở các mặt sau đây: sức khỏe của người lao động, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội ( gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,…) phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của NNL và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân ( gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động)” Theo GS.TS Vũ Thị Ngọc Phùng (2006), Giáo trình kinh tế phát triển, NXB Lao động – Xã hội, Hà Nội, thì: “ Chất lượng NNL được đánh giá qua trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng của người lao động cũng như sức khỏe của họ.” Theo quan điểm này thì chất lượng NNL được đánh giá thông qua các tiêu chí: trình độ học vấn, chuyên môn và kĩ năng (thuộc trí lực) và sức khỏe (thuộc thể lực). Các tiêu chí này được định lượng hóa bằng các cấp SVTH: Nguyễn Thị Thu Thủy 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh bậc học, các bậc đào tạo chuyên môn mà có và có thể đo lường được tương đối dễ dàng. Theo quan điểm của TS Phan Thanh Tâm (2000) thì chất lượng nguồn nhân lực được định nghĩa: “ Chất lượng NNL là tổng hòa của cả ba yếu tố: trí lực, thể lực và phẩm chất của người lao động” Tóm lại chất lượng NNL là bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động được sử dụng trong quá trình lao động sản xuất. Trong đó: + Thể lực: là trạng thái sức khỏe của người lao động, thể hiện ở sự phát triển sinh học, đủ sức khỏe để tham gia lao động, học tập và làm việc lâu dài.
+Trí lực: là năng lực trí tuệ, là học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ tay nghề. Nó có tính chất quyết định lớn đến khả năng sáng tạo của người lao động. + Tâm lực (phẩm chất): là sự phản ánh tính cách, tâm lý, sự giác ngộ, ý thức, các giá trị văn hóa được kết tinh trong người lao động tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách chất lượng lao động và biểu hiện ra ở ý thức lao động và thái độ lao động. Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực a.
Thể lực của nguồn nhân lực Thể lực là tình trạng sức khỏe của NNL bao gồm nhiều yếu tố cả về thể chất lẫn tinh thần và phải đảm bảo được sự hài hòa giữa bên tong và bên ngoài. Chất lượng NNL được cấu thành bởi năng lực tinh thần và năng lực thể chất. Thể lực tốt thể hiện ở sự nhanh nhẹn, tháo vát, bền bỉ, dẻo dai của sức khỏe cơ bắp trong công việc; thể lực là điều kiện quan trọng để phát triển trí lực; bởi nếu không chịu được sức ép của công việc thì cũng không thể tìm tòi, sáng tạo ra những nghiên cứu, phát minh mới. Thể lực được phản ánh bằng một hệ thống các tiêu chí cơ bản như: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất, và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe.
SVTH: Nguyễn Thị Thu Thủy 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Hồ Sỹ Minh Thông tư 13/2007/TT- BYT, Bộ y tế hướng dẫn khám sức khỏe khi làm hồ sơ dự tuyển, khám sức khỏe khi tuyển dụng, khám sức khỏe định kỳ và khám sức khỏe theo yêu cầu đối với các cơ sở là người sử dụng lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề,… với nội dung khám được quy định như sau: - Khám thể lực ( chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, mạch, huyết áp) - Khám lâm sàn ( nội khoa, ngoại khoa, sản phụ khoa, mắt, tai - mũi - họng, răng - hàm - mặt, da liễu) - Khám cận lâm sàn ( xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, chuẩn đoán hình ảnh) Theo đó, căn cứ vào các chỉ tiêu trên để phân loại sức khỏe thành 5 loại theo quyết định só 1613/ QĐ-BYT ban hành ngày 15/8/1997 của bộ y tế về tiêu chuẩn sức khỏe, phân loại để khám tuyển, khám định kỳ: - Loại I: Rất khỏe - Loại II: Khỏe - Loại III: Trung bình - Loại IV: Yếu - Loại V: Rất yếu Bảng 1.