CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Nguồn nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Các khái niệm và đặc điểm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực(human resources), là nguồn lực con người, gắn trực tiếp với mỗi người lao động trong doanh nghiệp. Đây là yếu tố đóng vai trò quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Nguồn nhân lực cùng với các nguồn lực khác như: tài chính, đất đai, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tài nguyên thiên nhiên…tạo nên các yếu tố đầu vào không thể thiếu cho sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác ở chỗ, nguồn nhân lực cùng với hoạt động có tính sáng tạo của con người đã sáng tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tác động và làm biến đổi thế giới tự nhiên. Trong quá trình lao động còn nảy sinh ra các quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Có nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về nguồn nhân lực, chẳng hạn: - Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức(với qui mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới [68,tr.256] -Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức[59,tr.9] - Còn theo Liên hợp quốc, trong Báo cáo đánh giá về tác động toàn cầu hoá đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người.
8 - Nguồn nhân lực dùng trong thống kế thị trường lao động, theo qui định của Tổng cục Thống kê thì nguồn nhân lực gồm những người đủ từ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang trong tình trạng: (1) thất nghiệp; (2) đang đi học; (3) đang làm nội trợ trong gia đình mình; (4) không có nhu cầu làm việc; (5) những người thuộc tình trạng khác chưa tham gia lao động. Như vậy, mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau tuỳ theo góc độ nghiên cứu, nhưng nguồn nhân lực đều có những đặc điểm quan trọng sau: Thứ nhất, nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người; Thứ hai, nguồn nhân lực là một bộ phận của dân số, tạo nên cung về lao động, qui mô nguồn nhân lực phụ thuộc vào qui mô dân số trong từng thời kỳ; nhu cầu của sản xuất kinh doanh quyết định đến nhu cầu về lao động. Thứ ba, nguồn nhân lực phản ánh khả năng lao động sản xuất của một tổ chức, một vùng, một quốc gia trong từng thời kỳ. Điều này phản ánh thông qua chất lượng nguồn nhân lực: đó là trình độ, kỹ năng, ý thức thái độ… trong công việc.
Thứ tư, nguồn nhân lực được đánh giá thông qua cơ cấu khác khác nhau. Đó là cơ cấu về trình độ chuyên môn, giới tính, độ tuổi, thâm niên công tác… Cơ cấu nguồn nhân lực luôn thay đổi phản ánh xu thế của nhu cầu sản xuất và biến đổi kinh tế trong từng thời kỳ khác nhau ở mỗi tổ chức, doanh nghiệp. Tóm lại, nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp phản ánh nguồn lực con người với qui mô, chất lượng, cơ cấu nhất định, phản ánh khả năng, tiềm năng, sức sáng tạo của người lao động ở mỗi một tổ chức, doanh nghiệp và trong toàn bộ nền kinh tế. Sử dụng nguồn nhân lực Theo cách tiếp cận thông thường, sử dụng nguồn nhân lực được gắn với việc dùng người, sử dụng con người trong công việc.
Tuy nhiên, trong luận văn này, dựa vào cách tiếp cận của lý thuyết quản trị nhân lực thì sử dụng nguồn nhân 9 lực là một nội dung quan trọng trong chuỗi hoạt động quản trị nhân lực: thu hút, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực. Vì vậy, sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp bao gồm các hoạt động: qui hoạch, kế hoạch hoá nguồn nhân lực; Bố trí , sắp xếp nhân lực; Đánh giá thực hiện công việc; đãi ngộ và tạo động lực lao động nhằm phục vụ cho mục tiêu phát triển của doanh nghiệp. Với cách tiếp cận này, thì doanh nghiệp cần biết bố trí đúng người, đúng việc và tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhất để họ cống hiến hết sức của mình cho sự phát triển của tổ chức, doanh nghiệp.Và ngược lại, một người lao động dù có giỏi, có chuyên môn trình độ, nhưng nếu không được sử dụng đúng thì cũng không phát huy được hết khả năng của mình. Trong quá trình sử dụng, một mặt phải tìm mọi biện pháp để khai thác, tận dụng tiềm năng, khả năng của người lao động phục vụ cho các mục tiêu phát triển của doanh nghiệp và tổ chức.
Mặt khác, cần phải tạo điều kiện, môi trường, chế độ chính sách đãi ngộ thoả đáng để tạo cho người lao động phát triển một cách toàn diện. Với cách hiểu này, sử dụng nguồn nhân lực phải dùng con người vừa là biện pháp vừa là mục tiêu cho phát triển. Khai thác đi đôi với phát triển phải là hai mặt của một vấn đề trong quản lý, sử dụng con người hiện nay ở mỗi một doanh nghiệp. Nội dung sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Công tác qui hoạch, kế hoạch hoá nguồn nhân lực Quy hoạch nguồn nhân lực là việc dự kiến, hoạch định kế hoạch phân công bố trí nhân lực vào các vị trí trong tương lai phù hợp với yêu cầu, chiến lược sản xuất kinh doanh và mục đích của nhà quản trị. Như vậy, quy hoạch cán bộ được hiểu là việc bố trí hay giao nhiệm vụ cho một cá nhân nào đó vào một vị trí trọng yếu trong tổ chức, doanh nghiệp. Nó 10 có thể là thuyên chuyển từ một chức danh khác tương đương hoặc lấy ý kiến, đề bạt một cá nhân đảm nhận vị trí đó nhằm đạt được mục tiêu quản trị. Kế hoạch hoá nguồn nhân lực bao gồm việc xác định rõ mục tiêu và hệ thống các biện pháp, giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu về nguồn nhân lực tỏng doanh nghiệp(được xác định trong một khoảng thời gian nhất định như: 1 năm, 3 năm, 5 năm…) 1.
Bố trí , sắp xếp nhân lực Bố trí nhân lực là hoạt động nhằm sắp xếp cho người lao động một chỗ làm việc. Bố trí nhân lực được chia thành 2 đối tượng: Bố trí lần đầu: Bố trí lần đầu là bố trí vị trí làm việc cho nhân viên mới. Áp dụng trong trường hợp người lao động được tuyển dụng mới dựa trên các yêu cầu của chức danh công việc còn trống. Các kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của họ phù hợp với các yêu cầu cơ bản của vị trí việc làm đã được doanh nghiệp tuyển dụng.
Vì vậy, công việc này cần sắp xếp, bố trí họ vào vị trí dự định tuyển chọn. Bố trí lại Bố trí, sắp xếp lại nhân lực chính là các hoạt động luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ. Cụ thể như sau: Luân chuyển là việc chuyển người lao động từ công việc này sang công việc khác hoặc từ vị trí công việc này sang vị trí công việc khác. Căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà sẽ có kế hoạch điều động lao động phù hợp cho từng bộ phận, từng giai đoạn với từng loại lao động.
Luân chuyển điều động cũng có thể được xuất phát từ phía người lao động hoặc từ phía doanh nghiệp. Thời gian luân chuyển có thể ngắn hạn, tạm thời hoặc thuyên chuyển lâu dài. 11 Đề bạt, bổ nhiệm cán bộ: Đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là việc đưa người lao động vào một vị trí làm việc cao hơn: tiền lương cao hơn, quyền hạn và trách nhiệm cao hơn, có các điều kiện làm việc tốt hơn và cơ hội phát triển nhiều hơn. Đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là việc xác định các chức danh còn trống và dựa vào qui hoạch cán bộ đã được xây dựng để lựa chọn các ứng viên có đủ tiêu chuẩn cho vị trí quản lý cần bổ nhiệm.
Đề bạt, bổ nhiệm cán bộ cần phải được thực hiện theo đúng qui trình đã được đặt ra, để đảm bảo tính ổn định, phát triển của doanh nghiệp. Khi bố trí sắp xếp nhân lực cần lưu ý một số điểm chính như: Cần bố trí cho nhân viên nơi làm việc thích hợp nhất đối với họ và phù hợp với nhu cầu nhân sự của tổ chức; Cần bố trí các phương tiện, điều kiện làm việc đầy đủ để tạo thuận lợi cho người lao động thực hiện tốt chức danh, nhiệm vụ được giao; Đối xử bình đẳng giữa các nhân viên với nhau; Tạo môi trường thuận lợi cho họ phấn đấu vươn lên trong công việc và có khả năng thăng tiến thuận lợi trong tiền lương; Quy định cơ chế phối kết hợp trong công việc rõ ràng. Bố trí lao động là một trong những nội dung quan trọng của sử dụng lao động. Vì vậy, việc bố trí lao động phải đúng người, đúng việc, tránh các lãng phí lao động ở các bộ phận, sử dụng hết khả năng của người lao động.
Đánh giá thực hiện công việc Đánh giá thực hiện công việc là sự đánh giá có hệ thống và chính thức mức độ thực hiện công việc của người lao động so với các tiêu chuẩn công việc đã được xây dựng. Việc sử dụng nguồn nhân lực bao giờ cũng phải gắn liền với công tác đánh giá thực hiện công việc. Đây là cơ sở để xem xét mức độ hoàn thành công việc được giao của các cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp. Đánh giá mức độ hoàn thành công việc không những mang ý nghĩa xác định mức độ hoàn thành kế hoạch, mà còn có ý nghĩa công nhận khả năng và thành tích của nhân viên trong khoảng thời gian nhất định.
Nó là cơ sở cho việc thực 12 hiện các công tác: hoạch định, phân công bố trí công việc, tuyển dụng, đào tạo phát triển nguồn nhân lực và công tác thù lao lao động. Đánh giá thực hiện công việc là một quá trình phức tạp và chịu nhiều ảnh hưởng bởi các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.Nó phụ thuộc vào ý thức chủ quan của người đánh giá kể cả khi doanh nghiệp đã xây dựng và sử dụng một hệ thống các tiêu chuẩn khách quan trong thực hiện công việc.