Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần chế biến gỗ Đức Thành. Chương 3:Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần chế biến Gỗ Đức Thành. 6 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH 1.1 Doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào, doanh nghiệp cũng là một đơn vị cơ sở một tế bào của cả nền kinh tế, là mơi trực tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và thông tin, các hình thức tổ chức doanh nghiệp ngày càng đa dạng, các loại sở hữu doanh nghiệp ngành càng phong phú. Do đó đứng trên các quan điểm khác nhau thì có các định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp. Theo quan điểm tổ chức: Doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện máy móc, thiết bị và con người được tổ chức lại nhắm đạt được một mục đích.
Theo quan điểm về mục tiêu lợi nhuận: Doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất thông qua đó, trong khuôn khổ một số tài sản nhất định người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất khác nhau nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường nhằm thu về một khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm. 7 Theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một, hoặc một số , hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiên các nhiệm vụ nhằm mục đích sinh lãi. Theo quan điểm pháp luật: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản , có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật nhắm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh [16]. Dưới nhiều các quan điểm góc nhìn khác nhau, nếu tổng hợp lại chúng ta sẽ có một định nghĩa toàn diện hơn về doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng yêu cầu tiêu dùng trên thị trường, với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, trên cơ sở tôn trọng pháp luật và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng”.
Từ định nghĩa này, ta có thể rút ra những đặc điểm hoạt động tổng quát của doanh nghiệp. Hoạt động của doanh nghiệp. - Chức năng sản xuất - kinh doanh: là hai chức năng không thể tách rời nhau, ngược lại chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau và tạo thành một chu trình khép kín trong hoạt động của doanh nghiệp, chu trình này được thể hiện ở sơ đồ: 8 Hình 1.1 Các chức năng hoạt động của doanh nghiệp. (Nguồn :Giáo trình tài chính doanh nghiệp.
Trong toàn bộ chu trình chuyển động trên, chức năng sản xuất là một giai đoạn trung gian, các giai đoạn đầu và cuối thuộc về chức năng nghiên cứu điều tra thị trường, chức năng phân phối và lưu thông sản phầm. Mỗi chức năng đều nắm giữ vai trò nhất định và đều có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ chu trình sản xuất kinh doanh. Ngoài hoạt động chính là sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp còn tham gia và tiếp xúc với nhiều hoạt động khác như: đầu tư, làm trung gian tài chính, liên kết hợp tác, tham gia công tác xã hội, đào tạo nghiên cứu.v… Theo từng loại hình doanh nghiệp cụ thể mà có các hoạt động khác nhau, có thể là một, hay một vài, hoặc tất cả các chức năng hoạt động. Căn cứ theo Luật Doanh nghiệp 2005, thì các hình thức pháp lý của doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: 9 - Công ty trách nhiệm hữu hạn ( bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ.
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. - Công ty hợp doanh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty , cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty.
Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. - Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập theo Luật đầu tư nước ngoài 1996 chưa đăng ký lại hay chuyển đổi theo quy định.
Mục tiêu tài chính của doanh nghiệp là làm tăng giá trị hay sự giàu có cho chủ sở hữu. 10 Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp về bản chất là đầu tư vào các tài sản và vận hành các tài sản này, qua đó cung cấp các hàng hóa, dịch vụ cho thị trường, làm cho các tài sản mang lại giá trị cao hơn chi phí hình thành và vận hành tài sản. Mục tiêu chung của doanh nghiệp luôn là làm gia tăng lợi nhuận, tuy nhiên vào từng giai đoạn khác nhau, lại có những mục tiêu cụ thể khác nhau. Trong giai đoạn giới thiệu thâm nhập thị trường, mục tiêu thị phần thường được đặt lên trên các mục tiêu khác.
Profit Impact Markrting Study ( PIMS) cho thấy rằng, doanh nghiệp có thị phần lớn hơn sẽ có thể mang lại nhiều lợi nhuận cho chủ sở hữu hơn trong dài hạn. Trong giai đoạn tăng trưởng, mục tiêu lợi nhuận và thị phần song hành. Lúc này đầu tư của doanh nghiệp là rất lớn. Khi doanh nghiệp đang trong giai đoạn bão hòa, mục tiêu thu hồi vốn có thể đặt lên hàng đầu.
Tăng giá bán nhằm tăng giá trị, tăng chi phí nhằm tạo ra chu kỳ kinh doanh mới. Đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng hay lúc doanh nghiệp gặp khăn, mục tiêu hàng đầu các doanh nghiệp cần đặt ra lúc này là ổn định, tồn tại và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.2 Lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh.1 Tổng quan về hiệu quả sản xuất kinh doanh. Khái niệm: “Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực có sẵn có để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh với 11 chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh doanh phải được xem xét một cách toàn diện về cả thời gian và không gian trong mối quan hệ với hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân( hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội)”[16].
Hiệu quả kinh tế: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có được để đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất, trong từng thời kỳ kinh doanh nhất định. Hiệu quả xã hội: phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá trình sản xuất kinh doanh. Phân biệt giữu kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số tuyệt đối phản ánh quy mô đầu ra của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau mỗi kỳ kinh doanh.Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì kết quả cần đạt được bao giờ cũng là mục tiêu cần thiết của doanh nghiệp.
Nóđược xác định bằng các chỉ tiêu định lượng như: số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu, lợi nhuận. và cũng có thể phản ánh bằng chỉ tiêu định tính như uy tín, chất lượng sản phẩm. Hiệu quả sản xuất kinh doanh phản ánh trình độ tổ chức và được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nó là thước đo quan trọng cho sự tăng trưởng, là chỗ dựa cơ bản đẻ đánh giá việc thực hiện các mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.
Xét về bản chất hiệu quả và kết quả là hai yếu tố khác hẳn nhau. Kết quả phản ánh quy mô còn hiệu quả phản ánh sự so sánh giữa các khoản bỏ ra và các khoản thu về. Kết quả chỉ cho ta thấy quy mô đạt được là lớn hay nhỏ và không phản ánh chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh. Có kết quả mới tính đến hiệu quả.
Kết quả là cơ sở để tính toán và phân tích hiệu quả trong từng kỳ kinh 12 doanh. Tuy kết quả và hiệu quả là hai khái niệm khác hẳn nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau. Theo nghĩa tổng quát thì hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh trình độ quản lý, đảm bảo thực hiện có kết quả cao về nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra với chi phí nhỏ nhất. Phạm trù kinh tế được hiểu trên hai góc độ đó là định tính và định lượng.
Về định lượng: Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế xã hội biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra. Nếu xét tổng hợp thì người ta chỉ thu lại được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu về lớn hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch càng lớn thì hiệu quả càng cao. Về mặt định tính: mức độ hiệu quả kinh tế thu được phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh doanh. Hai mặt định tính và định lượng của hiệu quả kinh doanh không được tách rời nhau.
Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh. Căn cứ vào nội dung và tính chất của các kết quả sản xuất kinh doanh, người ta phân biệt hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp thành hai loại chính: - Hiệu quả sản xuất kinh doanh. - Hiệu quả kinh tế - xã hội.