CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI ĐỐI VỚI SẢN XUẤT, KINH DOANH ĐẶC SẢN NÔNG NGHIỆP 1.Khái niệm về sản phẩm nông nghiệp đặc sản 1. Khái niệm sản phẩm nông sản Sản phẩm và nông phẩm: theo P. Kotler về khía cạnh thị trường và marketing, một sản phẩm được được coi là những thứ được chào hàng ra thị trường, nhận được sự quan tâm của thị trường, được thị trường chiếm hữu, được người tiêu dùng sử dụng để thỏa mãn một nhu cầu hoặc một mong muốn. Do vậy, có thể khái niệm nông phẩm được coi là một loại sản phẩm của hoạt động sản xuất nông nghiệp hoặc có nguồn gốc chủ yếu từ hoạt động sản xuất trong nông nghiệp, được bán ra thị trường để thỏa mãn một nhu cầu và mong muốn của thị trường/khách hàng đó.
Theo WTO, nông sản là những kết quả của hoạt động gây trồng và phát triển của cây trồng để tạo ra hàng hóa. Ngày nay, các sản phẩm từ hoạt động làm vườn cũng được coi là nông sản. Trên thực tế, kết quả của việc sử dụng tư liệu sản xuất là đất để tạo ra hàng hóa thì các hàng hóa đó được hiểu là nông sản. Theo Nghị định 57/2018/NĐ-CP về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn quy định: “(1) Nông nghiệp tại Nghị định này bao gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp; (2) Nông sản là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp”.
Rõ ràng, WTO không đưa các sản phẩm thuộc lĩnh vực lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp vào khái niệm nông sản. Trong khi đó tại Việt Nam, sản phẩm hàng hóa từ hoạt động của các ngành công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản lại được coi là nông sản tương tự như các khái niệm của FAO hay WTO. 12 Từ các lý thuyết này, khái niệm nông sản được rút ra như sau: “Nông sản là sản phẩm của ngành nông nghiệp, không bao gồm các sản phẩm của hoạt động chăn nuôi và các ngành lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp”. Vì vậy, nông sản sẽ mang một số đặc điểm của hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm: tính đa dạng, tính thời vụ và phụ thuộc nhiều ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên tại khu vực sản xuất kinh doanh.
Khái niệm đặc sản nông nghiệp Đặc sản nông lâm nghiệp (từ đây gọi là đặc sản) là tên gọi của một nông phẩm đặc biệt. Tính đặc biệt là việc đặc sản khác với các nông phẩm thông thường bằng việc “Đặc sản cung ứng cho các khách hàng một giá trị nổi bật/duy nhất và/hoặc khác biệt nổi trội và nổi tiếng với người tiêu dùng cuối cùng - đây chính là thuộc tính bản chất của đặc sản về kinh tế và kinh doanh” [18, trang 21]. Nhận thức rõ bản chất của đặc sản có ý nghĩa thực tiễn quan trọng bởi đa số mọi người khi tiếp cận quan điểm đặc sản là mang quan niệm của văn học sử. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hội nhập, quan niệm trên ngày càng mở rộng và phát triển gắn với nội hàm thị trường và kinh doanh.
Tính chất đặc biệt của sản phẩm khi được chuyển hóa thành tính “hàng hóa” sẽ tạo ra các thuộc tính “nhân tạo và vùng, quốc gia, quốc tế” cho sản phẩm đó. Theo nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Việt (2015) [18, trang 18], có nhiều quan điểm cho rằng tính chất “đặc sản” cần được duy trì và phát triển sản phẩm liên tục nên tính chất này không được coi là vĩnh viễn, cố định mãi mãi. Hơn nữa, trong quá trình phát triển, đặc sản thường được cải cải tiến mẫu mã, chất lượng dịch vụ mang lại giá trị nổi bật, trở nên khác biệt từ đó là cơ sở và căn cứ để hình thành nên một “đặc sản” trong tương lai Từ thực tiễn phát triển và thương mại hóa các nông phẩm ở Việt Nam và thế giới cho thấy, nhiều “đặc sản” có tính chất đặc thù được tạo ra bởi các yếu tố tự nhiên trong một phạm vi hẹp (trong phạm vi thôn, xã của tỉnh) đã dần thoái hóa và mất đi giá trị “đặc sản”; nhiều “đặc sản” sản phẩm nông sản 13 trong quá trình phát triển đã hình thành tỷ suất, sản lượng hàng hóa và chất lượng cung ứng cao hơn khi được sản xuất với quy mô cấp huyện, cấp tỉnh, thậm chí khi ra khỏi phạm vi của tỉnh sang tỉnh/thành phố khác với nhiều yếu tố thuận lợi hơn như các điều kiện thổ nhưỡng, về khí hậu, thời tiết, sâu bệnh,…. Qua quá trình phát triển này, từ nguyên gốc ban đầu nhiều nông phẩm thông thường dưới dạng tươi sống không nổi bật được kết hợp với các nguyên phụ liệu khác và thông qua một công nghệ chế biến cao lại tạo thành các “đặc sản”.
Tóm lại, “đặc sản” trước hết được tạo ra bởi tính đặc thù của sản phẩm thông qua các điều kiện tự nhiên mang tính “ưu đãi” của thiên nhiên mà những khu vực ngoài phạm vi địa phương đó không có được, đồng thời được người sản xuất lựa chọn, tuyển chọn các đặc tính ưu việt nhất thông qua quá trình tích lũy lâu đời tạo nên tính “truyền thống”. Đồng thời với tính truyền thống, đòi hỏi phải duy trì và phát triển sản phẩm đặc sản liên tục để nâng cấp tính đặc sản trong bối cảnh nền nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên như của Việt Nam và thực tế biến đổi khí hậu toàn cầu, dịch bệnh, thiên tai đang là yếu tố hiển thị, một thực thể của thế giới ngày nay. Quá trình chuyển hóa từ sản phẩm nông nghiệp sang đặc sản nông nghiệp Để từ sản phẩm nông sản nông nghiệp thông thường chuyển thành đặc sản nông nghiệp có nhiều cách khác nhau. Trong thực tiễn hàng chục năm phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh mở rộng quan hệ kinh tế với thế giới ngày nay, quá trình chuyển hóa này gồm các hình thức sau: + Trở thành đặc sản gắn với đặc thù địa-tự nhiên, môi trường sản xuất nông nghiệp xác định.
Thông qua hoạt động thực hiện các chọn lọc và tiến hóa tự nhiên từ quá trình canh tác, với những lợi thế về yếu tố thổ nhưỡng, nước, không khí, thời tiết, khí hậu và truyền thống canh tác, tại một địa điểm sẽ chỉ có một hoặc một vài nông phẩm phù hợp nhất để canh tác. Thậm chí trong cùng loại nông phẩm, chỉ có một vài đặc trưng “nông phẩm và khác 14 biệt” được tạo ra như về hương vị, mẫu mã, màu sắc và các yếu tố màu sắc cảm quan khác về hình thức và sản lượng sản phẩm; những đặc điểm “nổi trội” về chất lượng sinh hóa và dinh dưỡng của sản phẩm - chất lượng thương phẩm; và/hoặc tạo nên loại “gen”/(con, cây) giống có tính “ duy nhất”, mà nếu vẫn giống đó mang đi sản xuất trên địa điểm sản xuất khác sẽ không tạo ra được tính “ đặc sản” của nó. + Trở thành đặc sản gắn với lợi thế nguồn gốc xuất xứ nông phẩm. Nguồn gốc nơi sản xuất hoặc tạo ra sản phẩm luôn tạo ra lợi thế nhất định về xuất xứ đầu tiên của sản phẩm.
Đó là về mặt kỹ thuật nông nghiệp- một loại đặc sản thường gắn với một nguồn gen duy nhất, nhưng cần hiểu tính duy nhất đó phải được gieo trồng và canh tác đúng ở điều kiện tự nhiên tại địa điểm xuất xứ thì mới ra sản phẩm “đặc sản”. Dấu hiệu về nguồn gốc xuất xứ trong quá trình kinh doanh sản phẩm về lâu dài sẽ hình thành nên danh tiếng và sự tin tưởng của người tiêu dùng. Đó là lý do nhiều loại “đặc sản” được lan tỏa ra các địa điểm khác có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, tự nhiên khác và tạo ra sản phẩm có đặc tính, chất lượng tương tự nhưng để tiêu thụ tốt vẫn phải lấy danh nghĩa của nguồn gốc xuất xứ sản phẩm. + Trở thành đặc sản gắn với lợi thế thương hiệu sản phẩm.
Một trong các phương pháp để phân biệt với sản phẩm thông thường cùng loại khác, nhà sản xuất thường gắn thêm yếu tố nguồn gốc địa điểm xuất xứ đặc sản nhằm tạo dựng khả năng nhận biết cao nhất về các đặc tính của sản phẩm đặc sản. Nếu các chuỗi cung ứng sản phẩm dạng này triển khai được chương trình xúc tiến thương mại hiệu quả và phát triển các liên kết thứ cấp tốt sẽ không ngừng nâng cấp được giá trị các thương hiệu đặc sản và nâng cao sức cạnh tranh của chúng trên thị trường. Tuy nhiên cần thấy rằng, công việc trên chỉ có một cơ sở/hộ sản xuất hay một cơ sở thành viên thực hiện thì hiệu suất giá trị thương hiệu dựa trên khách hàng sẽ rất hạn chế thậm chí còn triệt tiêu lẫn nhau. Vì vậy, phương thức thích hợp nhất và hiệu quả nhất là phát triển thương hiệu tập 15 thể của một đặc sản này thay cho xu thế xây dựng thương hiệu tập thể cho tệp các cơ sở/hộ sản xuất như hiện nay ở nước ta.
+ Trở thành đặc sản gắn với lợi thế cạnh tranh động và hiệu quả kinh tế- xã hội. Đây là một tiếp cận mới trong nhận dạng, hình thành ý tưởng và phát triển một nông phẩm thông thường hầu như không có tính khác biệt và nổi trội mà vẫn thành một “đặc sản” nhờ phát triển được các yếu tố cạnh tranh động. Theo Levitt- chuyên gia hàng đầu về quản trị cạnh tranh quốc tế đã phát biểu “Một cạnh tranh mới không phải giữ những gì mà các doanh nghiệp sản xuất ra trong các phân xưởng của họ mà là những gì họ thêm vào các đầu ra từ phân xưởng dưới dạng các bao gói, các dịch vụ, quảng cáo, tư vấn khách hàng, tài trợ, thu xếp giao hàng, dịch vụ kho hàng và các việc khác mà khách hàng coi là có giá trị”. Những nhận định này là rất quan trọng với chuỗi cung ứng nông phẩm, bởi nếu một chuỗi cung ứng được quản trị tốt với một cấu hình tối ưu, một cấu trúc quan hệ đối tác chiến lược, một điều phối hiệu quả trên cơ sở một hệ thống cung ứng tinh gọn và linh hoạt sẽ đồng thời thỏa mãn yêu cầu về tính nổi bật, tính khác biệt và tính duy nhất của giá trị chào hàng thị trường xuất khẩu nông phẩm đó.
Đây là giá trị bởi tính chất “đặc biệt” của tỷ suất gia tăng giá trị, cận biên lợi nhuận và danh tiếng thương hiệu nông phẩm, và mặt khác qua đó sẽ quy tụ được một hệ thống có tính địa phương và vùng cùng tham gia để tạo ra và chia sẻ “đặc sản” dạng thức này. Từ đó mang lại giá trị về hiệu quả kinh tế xã hội của đặc sản.