Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp “Hiệu quả sản xuất cây sắn tại xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình” được thực hiện bởi sinh viên Hà Văn Đức (lớp K62-KTNN, Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Lâm nghiệp) dưới sự hướng dẫn của ThS. Mai Quyên vào năm 2021, thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (mã số: 7620155).
Nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn nông nghiệp Việt Nam, nơi hơn 60% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn và 40% lực lượng lao động hoạt động trong các ngành nông nghiệp. Trong cơ cấu cây lương thực, bên cạnh vị trí hàng đầu của cây lúa, cây sắn (Manihot esculenta Crantz) khẳng định vai trò kinh tế nhờ khả năng thích ứng cao với nhiều loại đất, kể cả đất dốc cằn cỗi, quy trình kỹ thuật tương đối đơn giản, chi phí đầu tư ban đầu thấp và thị trường tiêu thụ mở rộng phục vụ công nghiệp chế biến tinh bột, thức ăn gia súc.
Tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, Cun Pheo là xã vùng sâu, vùng xa thuộc diện đặc biệt khó khăn (Chương trình 135) nhưng lại là địa phương có quy mô diện tích trồng sắn lớn nhất huyện. Năm 2020, diện tích sắn toàn xã ước đạt 118,3 ha. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp tại đây đứng trước nhiều thách thức: biến đổi thời tiết, nguy cơ xói mòn rửa trôi đất dốc, sự gia tăng dân số làm thu hẹp quỹ đất canh tác bình quân. Phần lớn người dân địa phương canh tác theo tập quán cũ, chưa mạnh dạn đầu tư thâm canh, thiếu vốn, phân bón và kỹ thuật, dẫn đến năng suất chưa tương xứng với tiềm năng sinh thái của địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác lập rõ ràng:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cây sắn tại xã Cun Pheo, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của loại cây trồng này tại địa phương.
- Mục tiêu cụ thể (gồm 4 nhiệm vụ):
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp.
- Phân tích đặc điểm cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Cun Pheo.
- Đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất cây sắn tại xã Cun Pheo giai đoạn 2018 - 2020.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cây sắn tại xã Cun Pheo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sản xuất cây sắn tại xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất, chi phí đầu tư, thu nhập và hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng sắn.
- Phạm vi không gian: Địa bàn xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; khảo sát chi tiết tại 3 xóm đại diện: xóm Cun, xóm Mượt và xóm Pheo.
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2018 - 2020; số liệu sơ cấp điều tra hoạt động sản xuất nông hộ trong năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa khung lý luận về hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp được đúc kết bởi các tác giả quốc tế như Farrell (1957), Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993). Ba khái niệm cốt lõi được tác giả làm rõ:
- Hiệu quả kỹ thuật (Technical Efficiency): Khả năng tạo ra lượng sản phẩm tối đa trên một đơn vị chi phí đầu vào trong điều kiện công nghệ nhất định.
- Hiệu quả phân bổ (Allocative Efficiency): Phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí chi thêm, kết hợp giữa hiệu quả kỹ thuật và tương quan giá đầu vào - đầu ra.
- Hiệu quả kinh tế (Economic Efficiency): Trạng thái sản xuất đạt đồng thời cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá kinh tế nông hộ được áp dụng thống nhất:
- Giá trị sản xuất (GO - Gross Output): $GO = \sum (Q_i \times P_i)$, tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích trong chu kỳ sản xuất.
- Chi phí trung gian (IC - Intermediational Cost): $IC = \sum (C_i \times P_i)$, toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên sử dụng trong sản xuất (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu, thuê dịch vụ).
- Giá trị gia tăng (VA - Value Added): $VA = GO - IC$.
- Thu nhập hỗn hợp (MI - Mixed Income): $MI = VA - A - T - L_t - r$ (với $A$ là khấu hao máy móc, $T$ là thuế đất, $L_t$ là chi phí thuê lao động ngoài, $r$ là lãi vay).
- Các nhóm tỷ suất hiệu quả: Hiệu quả trên diện tích ($GO/\text{sào}, VA/\text{sào}, MI/\text{sào}$); hiệu quả sử dụng vốn ($GO/IC, VA/IC, MI/IC$); hiệu quả lao động ($GO/\text{CLĐ}, VA/\text{CLĐ}, MI/\text{CLĐ}$).
Về mặt sinh học - kỹ thuật, tác giả dẫn giải các nghiên cứu của Crantz (1976), Rogers (1963, 1965), De Candolle (1886) và tài liệu CIAT (1993) về cây sắn (Manihot esculenta Crantz, họ Thầu dầu Euphorbiaceae), ghi nhận củ tươi chứa 38 - 40% chất khô, 16 - 32% tinh bột; lá sắn chứa độc tố HCN (sắn ngọt chứa 80 - 110 mg HCN/kg lá tươi, sắn đắng chứa 160 - 240 mg HCN/kg lá tươi). Tác giả trích dẫn Phạm Văn Biên và Hoàng Kim (1991) về lịch sử sắn du nhập vào Việt Nam từ giữa thế kỷ 18.
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm hai kênh dữ liệu:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ giáo trình "Kinh tế nông nghiệp – Lý thuyết và thực tiễn", giáo trình "Kinh tế đất – Đại học Lâm nghiệp", các báo cáo thống kê định kỳ của Ban Địa chính và Văn phòng HĐND - UBND xã Cun Pheo, cùng cuốn "Lịch sử Đảng bộ và nhân dân xã Cun Pheo".
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thực hiện điều tra bằng phiếu phỏng vấn bán cấu trúc tại 3 xóm trồng sắn: xóm Cun (36 hộ/144 hộ), xóm Mượt (34 hộ/138 hộ), xóm Pheo (20 hộ/76 hộ). Mẫu nghiên cứu gồm 90 hộ nông dân, phân bổ theo 3 nhóm mức sống dựa trên danh sách quản lý của xã: 33 hộ nghèo, 18 hộ trung bình và 39 hộ khá.
- Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân, tỷ trọng, chỉ số min - max) và phương pháp thống kê so sánh (so sánh chuỗi thời gian 2018 - 2020; so sánh chéo giữa 3 nhóm thu nhập và 3 địa bàn xóm).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp
Chương này tổng kết cơ sở lý luận về bản chất và ý nghĩa kinh tế - xã hội của việc nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trong điều kiện tài nguyên đất đai khan hiếm. Tác giả phân tích 4 nhóm nhân tố tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất:
- Yếu tố tự nhiên: Vị trí địa lý, địa hình dốc, chế độ nhiệt - ẩm, tính chất thổ nhưỡng chi phối lựa chọn cây trồng và phương thức bố trí mùa vụ.
- Yếu tố kỹ thuật canh tác: Xử lý hom giống (dài 15 - 20 cm, đạt 6 - 8 mắt), kỹ thuật tỉa nhánh (giữ lại 2 nhánh/gốc khi cây cao 40 cm), bón lót phân chuồng, phân NPK và thời điểm thu hoạch tối ưu (sau 8 - 11 tháng).
- Yếu tố kinh tế - tổ chức: Quy hoạch vùng sinh thái nông nghiệp, tính tự chủ của kinh tế hộ gia đình, năng lực vốn và trình độ áp dụng công nghệ của chủ hộ.
- Yếu tố xã hội: Cơ chế chính sách khuyến nông, biến động giá cả thị trường đầu ra và sức ép từ thói quen canh tác truyền thống.
Chương 1 cũng trình bày chi tiết công thức xác định các chỉ tiêu kinh tế nông hộ ($GO, IC, VA, MI$) và đặc tính sinh học, giá trị dinh dưỡng, công dụng chế biến công nghiệp của cây sắn.
Chương 2: Đặc điểm chung của xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
Chương 2 mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên và hiện trạng kinh tế - xã hội của địa bàn nghiên cứu:
- Vị trí và địa hình: Cun Pheo nằm ở phía Tây Nam huyện Mai Châu, cách trung tâm huyện 31 km. Phía Bắc giáp xã Hang Kia; phía Đông Bắc giáp xã Pà Cò; phía Đông giáp xã Bao La; phía Đông Nam giáp xã Thành Sơn và xã Trung Sơn (huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa); phía Tây giáp xã Xuân Nha (huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La). Tổng diện tích tự nhiên là 6.139,17 ha. Địa hình bán sơn địa hiểm trở, độ dốc lớn từ Tây Nam xuống Đông, bị chia cắt bởi 6 con suối: suối Lướt, suối Dằm, suối Xia, suối Khụn, suối Nạy và suối Hái.
- Khí hậu, thủy văn: Mang đặc trưng Tây Bắc với nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 26,8 °C (thấp nhất vào tháng 1 đạt 13,5 °C; cao nhất vào tháng 6 - 7 đạt 24 - 27 °C), lượng mưa trung bình 1.800 - 2.000 mm/năm. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; mùa đông xuất hiện sương muối cục bộ.
- Hiện trạng sử dụng đất: Năm 2020, đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất với 4.338,62 ha (70,67%, tăng từ mức 4.226,44 ha năm 2018 do dự án trồng rừng của Công ty XNK Mai Bình); đất chưa sử dụng còn 1.035,02 ha (16,86%); đất nông nghiệp chiếm 674,49 ha (10,98%, giảm nhẹ so với mức 676,79 ha năm 2018 do sạt lở đất tại xóm Hái năm 2019 buộc phải chuyển đổi một phần đất lúa một vụ sang đất tái định cư); đất chuyên dùng 34,18 ha (0,55%) và đất khác 30,87 ha (0,51%).
- Dân số và kinh tế: Năm 2020 toàn xã có 547 hộ với 2.408 nhân khẩu và 1.269 lao động. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến: tổng giá trị sản xuất toàn xã tăng từ 36,39 tỷ đồng (2018) lên 46,20 tỷ đồng (2020). Trong đó, nông nghiệp đóng góp 23,80 tỷ đồng (tỷ trọng giảm từ 53,72% năm 2018 xuống 51,51% năm 2020); công nghiệp - xây dựng đạt 10,40 tỷ đồng (chiếm 22,51%); dịch vụ đạt 12,00 tỷ đồng (chiếm 25,98%). Xã đạt 11/19 tiêu chí nông thôn mới, tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, nguy cơ tái nghèo cao.
Chương 3: Hiệu quả kinh tế sản xuất cây sắn tại xã Cun Pheo, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình
Chương này phản ánh toàn diện thực trạng canh tác và hiệu quả kinh tế cây sắn:
- Thực trạng quy mô toàn xã: Toàn xã có 399 hộ dân địa phương trồng sắn (xóm Cun 144 hộ, xóm Mượt 138 hộ, xóm Pheo 76 hộ, xóm Táu Nà 46 hộ), cùng gần 100 hộ đồng bào dân tộc H'Mông từ Hang Kia, Pà Cò và các tỉnh lân cận (Sơn La, Thanh Hóa, Yên Bái) đến canh tác. Vụ sắn trồng từ tháng 4 và thu hoạch từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Giống sắn cao sản KM419 được Công ty TNHH MTV Tân Hiếu Hưng đưa từ Đắk Lắk về trồng thay thế dần các giống sắn bản địa. Diện tích trồng sắn toàn xã biến động lớn: năm 2018 đạt 49 ha, năm 2019 giảm còn 30 ha, đến năm 2020 tăng vọt lên 118,3 ha do chuyển đổi diện tích lúa nương kém hiệu quả; năng suất tăng từ 17 tấn/ha (2018) lên 18,5 tấn/ha (2020); sản lượng sắn năm 2020 đạt 2.183 tấn.
- Đặc điểm 90 hộ điều tra: Diện tích đất canh tác bình quân của hộ khá đạt 3.957,7 m²/hộ, hộ trung bình đạt 3.491,5 m²/hộ, hộ nghèo đạt 2.852,0 m²/hộ. Trình độ học vấn của chủ hộ có sự cách biệt lớn: ở nhóm hộ nghèo, 73,36% có trình độ tiểu học (cấp 1) và chỉ 3,33% đạt cấp 3; ở nhóm hộ khá, tỷ lệ cấp 2 đạt 49,65% và cấp 3 đạt 29,97%. Độ tuổi bình quân chủ hộ tăng theo mức sống: hộ nghèo 39,1 tuổi; hộ trung bình 45,3 tuổi; hộ khá 49,6 tuổi.
- Chi phí sản xuất trên 1 sào (năm 2020):
- Hộ nghèo: Chi phí trung gian (IC) là 82.202 đồng (gồm 7,2 kg phân NPK trị giá 28.000 đồng; 0,3 lọ thuốc diệt cỏ trị giá 33.000 đồng; xăng xe 21.202 đồng). Công lao động thuê ngoài (CLĐTN) là 0,25 công (45.000 đồng). Hao mòn máy móc (HMMM) là 9.000 đồng. Tổng chi phí đạt 136.202 đồng/sào.
- Hộ trung bình: IC là 98.257 đồng (NPK 38.000 đồng; thuốc cỏ 33.000 đồng; xăng 27.257 đồng). CLĐTN là 0,75 công (135.000 đồng). HMMM là 13.500 đồng. Tổng chi phí đạt 246.757 đồng/sào.
- Hộ khá: IC là 113.538 đồng (NPK 49.200 đồng; thuốc cỏ 33.000 đồng; xăng 31.338 đồng). CLĐTN là 1 công (180.000 đồng). HMMM là 15.000 đồng. Tổng chi phí đạt 308.538 đồng/sào.
- Bình quân chung 90 hộ: Tổng chi phí sản xuất là 230.498 đồng/sào (trong đó NPK: 38.400 đồng; thuốc trừ cỏ: 33.000 đồng; xăng: 26.598 đồng; CLĐTN: 120.000 đồng ứng với 0,67 công; HMMM: 12.500 đồng).
- Kết quả sản xuất trên 1 sào: Với giá bán sắn củ tươi ổn định tại địa phương là 1.600 đồng/kg:
- Hộ nghèo đạt năng suất 699,84 kg/sào, giá trị sản xuất (GO) đạt 1.119.744 đồng/sào.
- Hộ trung bình đạt năng suất 720,00 kg/sào, GO đạt 1.152.000 đồng/sào.
- Hộ khá đạt năng suất 730,08 kg/sào, GO đạt 1.168.128 đồng/sào.
- Bình quân chung toàn bộ mẫu khảo sát đạt năng suất 716,46 kg/sào, GO đạt 1.146.952 đồng/sào.
- So sánh theo địa bàn xóm: Xóm Mượt có quy mô sắn bình quân 12,83 sào/hộ, năng suất 755,58 kg/sào, GO đạt 1.208.928 đồng/sào (chi phí 245.182 đồng/sào). Xóm Cun có diện tích 11,68 sào/hộ, năng suất 716,30 kg/sào, GO đạt 1.146.080 đồng/sào (chi phí thấp nhất: 194.906 đồng/sào nhờ thuận lợi đường giao thông thu mua). Xóm Pheo có diện tích 9,26 sào/hộ, năng suất thấp nhất đạt 678,04 kg/sào, GO đạt 1.084.864 đồng/sào (chi phí cao nhất: 251.110 đồng/sào do đất bị thoái hóa vì canh tác liên tục nhiều năm).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã lượng hóa chi tiết các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của mô hình canh tác cây sắn tại xã Cun Pheo trong vụ sản xuất năm 2020:
| Nhóm chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật |
Hộ nghèo |
Hộ trung bình |
Hộ khá |
Bình quân chung |
| Quy mô diện tích sắn/hộ (sào) |
8,40 |
11,82 |
13,55 |
11,26 |
| Năng suất củ tươi (kg/sào) |
699,84 |
720,00 |
730,08 |
716,46 |
| Giá bán bình quân (đồng/kg) |
1.600 |
1.600 |
1.600 |
1.600 |
| Giá trị sản xuất - GO (đồng/sào) |
1.119.744 |
1.152.000 |
1.168.128 |
1.146.952 |
| Chi phí trung gian - IC (đồng/sào) |
82.202 |
98.257 |
113.538 |
97.998 |
| Chi phí thuê lao động (đồng/sào) |
45.000 |
135.000 |
180.000 |
120.000 |
| Hao mòn máy móc (đồng/sào) |
9.000 |
13.500 |
15.000 |
12.500 |
| Tổng chi phí sản xuất (đồng/sào) |
136.202 |
246.757 |
308.538 |
230.498 |
| Địa bàn xóm khảo sát |
Diện tích sắn/hộ (sào) |
Năng suất sắn (kg/sào) |
GO bình quân (đồng/sào) |
Tổng chi phí (đồng/sào) |
| Xóm Cun |
11,68 |
716,30 |
1.146.080 |
194.906 |
| Xóm Mượt |
12,83 |
755,58 |
1.208.928 |
245.182 |
| Xóm Pheo |
9,26 |
678,04 |
1.084.864 |
251.110 |
Các phát hiện và đóng góp thực tiễn chính của đề tài:
- Khẳng định vai trò tạo thu nhập chính: Cây sắn là nguồn thu tiền mặt quan trọng hàng đầu của các hộ gia đình miền núi tại xã Cun Pheo, tận dụng hiệu quả các diện tích nương rẫy có độ dốc cao không thể cấy lúa nước.
- Chỉ ra mối tương quan giữa năng lực đầu tư và kết quả sản xuất: Các hộ khá có vốn đầu tư phân bón NPK cao hơn (49.200 đồng/sào so với 28.000 đồng/sào của hộ nghèo) và chủ động thuê lao động chăm sóc cỏ dại, nhờ đó đạt năng suất cao nhất (730,08 kg/sào tương đương 0,73 tấn/sào). Ngược lại, nhóm hộ nghèo chủ yếu "lấy công làm lãi", hạn chế đầu tư phân bón nên năng suất chỉ đạt 699,84 kg/sào.
- Cảnh báo về thói quen lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật: Cả 3 nhóm hộ đều chi 33.000 đồng/sào tiền thuốc diệt cỏ (khoảng 0,3 lọ) để phun dọn thực bì trước và sau khi đặt hom 2 - 3 ngày. Việc lạm dụng thuốc trừ cỏ trên sườn đồi dốc đặt ra nguy cơ rửa trôi hóa chất độc hại xuống hệ thống suối và suy thoái nguồn nước sinh hoạt của xã.
Hệ thống giải pháp tác giả đề xuất:
- Giải pháp kỹ thuật: Tuân thủ quy chuẩn hom giống (chặt bằng dao sắc đoạn giữa thân, dài 15 - 20 cm, 6 - 8 mắt); khuyến khích mô hình trồng xen cây họ đậu (đậu đen, củ đậu) hoặc dưa mèo trên nương sắn để tạo thảm thực vật che phủ chống xói mòn và cố định đạm sinh học cải tạo đất; giảm thiểu sử dụng thuốc diệt cỏ.
- Giải pháp kinh tế và cơ giới hóa: Hỗ trợ nông dân tiếp cận máy làm cỏ cầm tay, máy phun cơ giới; tạo điều kiện cho các hộ nghèo vay vốn ưu đãi để mua phân bón lót NPK.
- Giải pháp thị trường: Củng cố hợp đồng thu mua nông sản với các đơn vị chế biến như Công ty TNHH MTV Tân Hiếu Hưng và Công ty XNK Mai Bình, thiết lập các điểm tập kết tiêu thụ ổn định dọc tuyến đường liên xã nhằm tránh tình trạng tư thương ép giá.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với đặc điểm địa bàn nghiên cứu:
- Do tập quán canh tác của nông hộ vùng cao mang tính phân tán, nhỏ lẻ và không có thói quen ghi chép sổ sách kế toán, các khoản chi phí liên quan đến ngày công lao động gia đình tự làm và hao mòn công cụ sản xuất chủ yếu được ước lượng quy đổi theo giá thị trường địa phương, chưa bóc tách triệt để chi phí quản lý của chủ hộ.
- Dữ liệu sơ cấp mới tập trung khảo sát trong phạm vi vụ sản xuất năm 2020 tại 3 xóm đại diện, chưa bao quát toàn bộ chuỗi giá trị tiêu thụ và biến động giá cả thu mua củ sắn qua nhiều năm liên tiếp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ văn bản:
- Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động sinh thái và môi trường đất dài hạn của việc thâm canh sắn kết hợp sử dụng thuốc diệt cỏ trên đất dốc.
- Nghiên cứu mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín giữa nông hộ trồng sắn với các nhà máy chế biến tinh bột sắn công nghiệp tại tỉnh Hòa Bình và khu vực Tây Bắc.
Giá trị tham khảo
Tài liệu này là nguồn tư liệu thực chứng hữu ích cho các nhóm đối tượng cụ thể:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý đất đai: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận nghiên cứu kinh tế hộ, kỹ thuật thiết kế phiếu phỏng vấn và phương pháp phân tầng mẫu điều tra nông hộ theo các nhóm mức sống tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Cán bộ quản lý nông nghiệp, khuyến nông viên cấp huyện và xã: Cung cấp số liệu cụ thể về định mức chi phí trung gian, nhu cầu công lao động và doanh thu thực tế trên mỗi sào sắn để xây dựng quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất dốc tại địa bàn huyện Mai Châu và các tiểu vùng sinh thái tương đồng.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống bảng số liệu chi tiết tại Chương 3 phản ánh cơ cấu chi phí vật tư (NPK, thuốc cỏ, xăng dầu, hao mòn máy móc) và kết quả sản xuất ($GO$) trên 1 sào sắn phân chia theo nhóm thu nhập và theo từng xóm khảo sát.
Câu hỏi thường gặp
1. Giống sắn chủ lực được canh tác tại xã Cun Pheo trong giai đoạn nghiên cứu là giống nào?
Các hộ dân tại xã Cun Pheo chủ yếu sử dụng giống sắn cao sản KM419, do Công ty TNHH MTV Tân Hiếu Hưng đưa từ tỉnh Đắk Lắk về trồng xen với các giống sắn tre và sắn bản địa. Giống KM419 cho năng suất bình quân toàn xã trên 17 tấn/ha (năm 2020 đạt 18,5 tấn/ha), có hàm lượng tinh bột cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn các giống cũ.
2. Chi phí đầu tư sản xuất sắn trên 1 sào giữa hộ nghèo và hộ khá chênh lệch như thế nào?
Tổng chi phí trên 1 sào của hộ khá là 308.538 đồng, cao hơn 2,26 lần so với hộ nghèo (136.202 đồng). Sự chênh lệch này chủ yếu nằm ở chi phí phân bón NPK (hộ khá chi 49.200 đồng, hộ nghèo chi 28.000 đồng) và chi phí thuê mướn lao động bên ngoài (hộ khá thuê 1 công trị giá 180.000 đồng, hộ nghèo chỉ thuê 0,25 công trị giá 45.000 đồng do tận dụng lao động gia đình). Riêng chi phí thuốc diệt cỏ ở cả hai nhóm đều bằng nhau là 33.000 đồng/sào.
3. Vì sao diện tích trồng sắn toàn xã Cun Pheo năm 2020 lại tăng vọt lên 118,3 ha so với mức 30 ha của năm 2019?
Diện tích sắn tăng mạnh từ 30 ha (năm 2019) lên 118,3 ha (năm 2020) do hai nguyên nhân chính: người dân chủ động chuyển đổi nhiều diện tích đất trồng lúa nương kém hiệu quả sang trồng sắn cao sản KM419; đồng thời xóm Táu Nà phát sinh thêm diện tích trồng sắn mới trong vùng triển khai dự án của Công ty XNK Mai Bình.
4. Mức giá bán và giá trị sản xuất (GO) bình quân trên 1 sào sắn của các hộ điều tra đạt bao nhiêu?
Năm 2020, củ sắn tươi tại xã Cun Pheo được bán đồng giá 1.600 đồng/kg. Sản lượng bình quân mẫu điều tra đạt 716,46 kg/sào, mang lại giá trị sản xuất bình quân là 1.146.952 đồng/sào. Trong đó, xóm Mượt đạt GO cao nhất (1.208.928 đồng/sào), tiếp theo là xóm Cun (1.146.080 đồng/sào) và thấp nhất là xóm Pheo (1.084.864 đồng/sào).
5. Yếu tố địa hình gây khó khăn gì cho quá trình sản xuất sắn tại xã Cun Pheo?
Cun Pheo có địa hình bán sơn địa hiểm trở, độ dốc lớn từ Tây Nam xuống Đông và bị chia cắt bởi 6 con suối. Sắn được canh tác hoàn toàn trên nương rẫy đồi dốc, máy móc và thiết bị cơ giới không thể tiếp cận được nên các khâu làm đất, đặt hom, làm cỏ và thu hoạch đều phụ thuộc hoàn toàn vào sức lao động thủ công của con người, làm tăng nặng chi phí nhân công và hao tổn sức lao động.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hà Văn Đức đã phản ánh chân thực thực trạng và hiệu quả kinh tế sản xuất cây sắn tại xã Cun Pheo, huyện Mai Châu giai đoạn 2018 - 2020 thông qua phương pháp khảo sát thực chứng 90 nông hộ. Kết quả nghiên cứu xác định cây sắn là cây trồng sinh kế chủ lực giúp tạo nguồn thu nhập tiền mặt ổn định cho đồng bào dân tộc vùng sâu, đồng thời chứng minh mức độ đầu tư thâm canh phân bón và trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng. Hệ thống giải pháp kỹ thuật xen canh chống xói mòn và liên kết doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm do tác giả đề xuất có giá trị ứng dụng thiết thực, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp hàng hóa bền vững tại địa phương.