CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC CẦU Tổng quan chung về công tác quản lý và khai thác cầu ở Việt Nam Nằm trong danh sách các quốc gia đang phát triển, tại Việt Nam hiện nay, hệ thống giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, cảng biển) đang phát triển một cách nhanh chóng, các công trình cầu lớn và hiện đại được đầu tư xây dựng ngày một nhiều, giúp nâng cao năng lực vận tải (tăng tải trọng hàng hóa vận chuyển, tăng tần suất vận chuyển,…). Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều các cầu trên hệ thống các quốc lộ, tỉnh lộ cũ, được xây dựng ở thời gian trước, với tiêu chuẩn kỹ thuật kém hơn, hoặc với tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương nhưng hiện đã xuất hiện hư hỏng, ảnh hưởng đến quá trình làm việc. Theo các đợt khảo sát gần đây các công trình cầu được đánh giá là cầu yếu, cầu không đáp ứng được nhu cầu vận tải và không đồng bộ trên các tuyến đường đang còn khá nhiều. Với nhu cầu vận tải trên đường bộ ngày một tăng cao, bên cạnh việc đầu tư xây dựng mới, bổ sung cho mạng lưới đường bộ ở nước ta thì công tác kiểm tra cầu định kỳ và nâng cấp, sửa chữa, bảo trì các công trình cầu là một công việc vô cùng quan trọng.
Để có thể thực hiện tốt các công việc này một yêu cầu được đặt ra là phải có hệ thống quản lý cầu hiện đại và tối ưu, hệ thống quản lý này sẽ không những giúp cho phía đơn vị quản lý ở cấp cao (Bộ Giao thông Vận tải, Tổng Cục Đường Bộ, các Sở Giao thông Vận tải các tỉnh, thành phố) cũng như các địa phương quản lý trực tiếp công trình cầu có được một định hướng phân bổ nguồn vốn đầu tư nâng cấp sửa chữa hợp lý, mà còn giúp cho các đơn vị trực tiếp quản lý cầu (các công ty quản lý cầu đường) có được phương án khai thác và bảo dưỡng cầu một cách hiệu quả. Hiện nay, ở nước ta, hệ thống quản lý cầu đang được phân ra cho các đơn vị chức năng cùng nhau thực hiện. Tuy nhiên, mỗi cơ quan chức năng khác nhau lại thực hiện công tác quản lý và khai thác cầu theo những phương pháp khác nhau, chưa thực sự thống nhất giữa các đơn vị.1 Hệ thống quản lý cầu Hệ thống quản lý cầu là một hệ thống được thiết kế để tối ưu hóa việc sử dụng 6 các nguồn lực sẵn có cho việc kiểm tra, duy tu, phục hồi nâng cấp và thay thế cầu. Hệ thống bao gồm các phương thức chính thức để thu thập, xử lý và cập nhật dữ liệu, phỏng đoán sự hư hỏng, xác định các hành động thay thế, dự tính chi phí, xác định các chính sách tối ưu, tiến hành dự báo ngân sách ngắn hạn và dài hạn, khuyến cáo các chương trình và đưa ra kế hoạch thực hiện trong các điều hiện ràng buộc về ngân sách và chính sách [5].
Ở nước ta sau nhiều lần thay đổi đến nay hiện có ba hệ thống quản lý cầu đường: Hệ thống quản lý các quốc lộ; Hệ thống quản lý các đường địa phương; Hệ thống quản lý cầu đường sắt; Các hệ thống quản lý trên đều trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải. Hệ thống quản lý cầu trên quốc lộ. Ở hệ thống này cơ quan cao nhất là Tổng cục Đường bộ Việt Nam, dưới Tổng cục Đường bộ Việt Nam có bốn Cục Quản lý đường bộ (trước năm 2014 được gọi là các Khu Quản lý đường bộ): Cục Quản lý đường bộ I có trụ sở đặt tại TP Hà Nội, phạm vi quản lý là quốc lộ ở các tỉnh miền bắc cho đến hết tỉnh Ninh Bình (điểm ranh giới với Cục Quản lý đường bộ II là Dốc Xây, Thanh Hóa); Cục Quản lý đường bộ II có trụ sở đặt tại TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Phạm vi quản lý từ tỉnh Thanh Hóa với điểm bắt đầu từ Dốc Xây đến hết tỉnh Thừa Thiên Huế (điểm ranh giới là đỉnh đèo Hải Vân, tiếp giáp với TP Đà Nẵng); Cục Quản lý đường bộ III có trụ sở đặt tại TP Đà Nẵng.
Phạm vi quản lý từ thành phố Đà Nẵng với điểm đầu là đỉnh đèo Hải Vân đến hết tỉnh Khánh Hòa (điểm ranh giới là cầu Cây Đa). Cục Quản lý đường bộ IV có trụ sở đặt tại TP Hồ Chí Minh. Phạm vi quản lý từ tỉnh Ninh Thuận với điểm bắt đầu là cầu Cây Đa đến hết các tỉnh Miền Nam, đồng bằng sông Cửu Long. Về nguyên tắc tất cả các Quốc lộ trong phạm vi quản lý đều thuộc các Cục 7 QLĐB, tuy vậy một số đoạn quốc lộ, do tính đặc thù địa phương, được Tổng cục Đường bộ Việt Nam ủy thác cho các sở Giao thông vận tải các tỉnh quản lý.
Ví dụ như Quốc lộ 5 từ Hà Nội đi Hải Phòng: đoạn từ Hà Nội đến Hải Dương do Cục Quản lý đường bộ I quản lý, đoạn còn lại được ủy thác cho Sở GTVT Hải Phòng Quản lý. Dưới Cục quản lý đường bộ có các Chi cục quản lý đường bộ, mỗi Chi cục quản lý một hoặc một số đoạn quốc lộ. Các Chi cục không trực tiếp tham gia vào công tác quản lý, duy tu, bảo trì các công trình cầu đường mà chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn được giao. Sơ đồ quản lý cầu của tổng cục đường bộ được mô tả trên Hình 1.1: Sơ đồ quản lý cầu của tổng cục đường bộ Dưới đây là ví dụ cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý đường bộ IV quản lý hệ thống quốc lộ từ Ninh Thuận đến hết các tỉnh phía Nam.
Cục Quản lý đường bộ IV (sau đây viết tắt là Cục QLĐB IV) là tổ chức trực thuộc Tổng cục Đường bộ Việt nam, thực hiện chức năng quản lý nhà nước và giao thông vận tải đường bộ và quản lý, bảo trì, khai thác hệ thống quốc lộ trên khu vực các tỉnh Nam Trung bộ và Nam 8 bộ. Phạm vi Cục QLĐB IV quản lý gồm hệ thống quốc lộ thuộc các tỉnh, thành phố từ tỉnh Ninh Thuận, Lâm Đồng trở vào (không bao gồm một số đoạn tuyến quốc lộ ủy thác cho địa phương quản lý). Cục QLĐB IV có tư cách pháp nhân, có con dấu, được hưởng kinh phí từ ngân sách Nhà nước, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và có trụ sở đặt tại thành phố Hồ Chí Minh. Cục QLĐB IV có các phòng Tổ chức – Hành chính; Kế hoạch – Kỹ thuật; Tài chính; Quản lý, bảo trì đường bộ; An toàn giao thông và 07 Chi cục.
Ngoài ra Cục QLĐB IV còn có các đơn vị thành viên như Trung tâm Kỹ thuật đường bộ IV, Trạm kiểm tra tải trọng xe Dầu Giây, Cụm phà Vàm Cống,. Trong những năm gần đây Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã tổ chức đấu thầu công tác quản lý, bảo dưỡng thường xuyên toàn bộ hệ thống các quốc lộ. Các công ty Quản lý sửa chữa đường bộ (trước đây thuộc các Khu quản lý đường bộ) hoặc các công ty khác đều có thể tham gia công tác này [4].2: Bản đồ khu vực quản lý của các Cục Quản lý Đường bộ 10 Công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý cầu đang được triển khai ở Tổng cục đường bộ. Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng chương trình quản lý cầu VBMS trực tuyến để đưa dữ liệu của các cầu trên quốc lộ lên trang web với hệ thống hạ tầng kỹ thuật điện toán đám mây.
Các thông tin cơ bản về công trình cầu, dữ liệu của các lần kiểm tra đều đã được đưa lên trang web (hệ thống cơ sở dữ liệu trực tuyến).3: Minh họa bản đồ cầu trên VBMS của Tổng cục ĐBVN. Hệ thống quản lý cầu địa phương. Bên cạnh việc quản lý một số đoạn tuyến Quốc lộ được Tổng cục Đường bộ Việt Nam ủy thác thì các Sở GTVT quản lý hệ thống đường địa phương trong phạm vi tỉnh, thành. Hệ thống này gồm có hệ thống đường tỉnh và các đường huyện.
Hiện tại ở nước ta có 63 sở GTVT tương ứng với các đơn vị hàng chính tỉnh, thành phố độc lập. Sở GTVT cũng chỉ là đơn vị quản lý hành chính nhà nước còn trực tiếp thực hiện công tác kiểm tra, duy tu, bảo dưỡng bảo trì là các Công ty Quản lý cầu đường bộ. Theo chủ trương xã hội hóa của ngành giao thông thì mọi công ty đều có thể tham gia đấu thầu thực hiện công tác duy tu, bảo dưỡng này. Để hỗ trợ cho các sở có các Đoạn Quản lý Đường bộ, dưới các Đoạn là các Hạt quản lý đường bộ Hiện nay, công tác quản lý cầu đường bộ của các Sở Giao thông vận tải chủ yếu được thực hiện theo hình thức báo cáo định kỳ, thủ công, chưa có cái nhìn trực quan 11 trên nền bản đồ số nên các thông tin phản ánh chưa được đầy đủ hoặc cập nhật kịp thời khi cần báo cáo, theo dõi.
Việc thu thập, kiểm tra đối tượng chủ yếu đươc thực hiện bằng hình thức sử dụng phiếu kiểm tra trên giấy kết hợp với máy ảnh kỹ thuật số, vị trí kiểm tra tại thực địa thông qua địa chỉ hoặc lý trình ước lượng, mất nhiều thời gian xử lý thông tin sau kiểm tra. Một số tỉnh thành do điều kiện địa lý có hệ thống quản lý cầu ở cấp thấp hơn ví dụ như TP Hà Nội, TP HCM, tỉnh Cao Bằng,. Các địa phương cấp huyện quản lý cầu cho khu vực địa bàn của huyện. Hệ thống quản lý cầu đường sắt Quản lý hệ thống đường sắt hiện tại do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam phụ trách.
Dưới Tổng công ty là các công ty Quản lý đường sắt phụ trách một tuyến hoặc một đoạn tuyến, các công ty này quản lý các công trình cầu trong phạm vi đoạn tuyến của mình. Các công ty này là: Hà Hải, Hà Thái, Yên Lào, Hà Lạng, Vĩnh Phú, Hà Ninh, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Bình Trị Thiên, Quảng Nam - Đà Nẵng, Nghĩa Bình, Phú Khánh, Thuận Hải, Sài Gòn.4: Sơ đồ quản lý cầu đường sắt 12 Hình 1.5: Bản đồ các tuyến đường sắt Việt Nam hiện tại * TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VÀ KHAI THÁC CẦU Ở VŨNG TÀU. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có khoảng vài trăm cây cầu lớn, nhỏ, ngoài các cây cầu trên hệ thống quốc lộ do Tổng Cục Đường Bộ Việt Nam quản lý, còn lại đa số các cây cầu còn lại được sở Giao thông vận tải Bà Rịa – Vũng Tàu giao cho công ty cổ phần công trình giao thông tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý.