CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CUU LL Tổng quan vùng nghiên cứu, ‘Ving ĐBSH bao gồm 11 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Vinh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Dương, Hai Phòng, Hưng Yên, Thái Bình, Hi Nam, Nam Định, Ninh Bình. Toàn ‘ving có 12 thành phố trực thuộc tinh, 19 quận, 6 thị xã, 93 huyện, 433 phường, 119 thị trắn và 1. Vung ĐBSH có diện tích 21.060 km”, chiếm 6,4% diện tích cả nước. Dân số là 20,7 triệu người chiếm 22.8 dân số toàn quốc.
Đây là ving cổ một độ din số cao nhất nước 983 người kmỄ cao gắp 3.6 lần mật độ bình quân cả nước. Trung Quốc Neudn: viwikipedia.1, Bin đồ vũng DBSH ‘Theo sé liệu điều tra đến năm 2014, toàn vùng ĐBSH có 55 hệ thống thủy nông lớn và vita, 448 hỗ chứa có dung tích từ 50 nghin m’ tr lên, 5.415 trạm bơm (có công suất từ 1000 m'/h trở lên), 140 đập ding kiên cổ được xây dựng và đưa vào khai thác. Hệ thống thay lợi đảm bảo tưới cho 765,000ha (tưới la mia khoảng 580,000 ha, mẫu và cây công nghiệp dai ngày 7.000 ha), dig tch được tiêu khoảng 510.000 ha, Hệ thống CTTL thực hiện nhiệm vụ dat hiệu quả to lớn trong phục vụ tưới, tiêu cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trằng thuỷ sản, tạo nguồn cung cấp nước sinh hoại, công nghiệp tiêu nước din cư, đô thị và cải tạo môi trường. Tuy nhiên sau nhiều năm khai thác một số hệ thống đã xuống cấp cụ thé như sau: kênh mương bị bồi lắng.
khả năng chuyển nước bị hạn chế. Máy móc thiết bị của các trạm bom hiệu suất thấp, tiêu thụ nhiễu điện năng, chỉ phí sửa chữa bảo đường lồn, gây lãng phi nước, ổn diện ích đất, Vũng ĐBSH được lựa chọn là vàng nghiên cứu vi một số lý do sa - Thử nhất, đây là ving đồng bằng châu thổ đồng vai trd quan trong rong phát tiển kinh tế xã hội của cả nước. Mặc di diện tích chỉ chiếm có 6,4% nhưng dân số chiếm. Giá trị GDP của ving chiếm 27% tổng giá trị GDP cả nước, ~ Thứ hai, hệ thống CTTL được đầu tư xây dựng tương đối hoàn thiện từ công trình đầu mỗi đến mặt ruộng.
Mặc di chủ yếu phục vụ tưới tiều bằng động lực nhưng các CTL trong ving cũng da dạng và tiêu biểu, bao gồm cả công trình trọng lực (hồ chứa, đập ding) và công trình động lực (trạm bơm). Ngoài nhiệm vụ chính là tưới, tiêu. phục vụ sản xuất nông nghiệp. nhiễu hệ hổng công trình trong vũng đã được khai thác tổng hợp, đa mục tiêu kết hợp với cấp nước sinh hoạt, giao thông thuỷ, phát điện, phòng ching lũ ~ Thứ ba, hệ thống tố chức QLKT CTTL cũng cơ bản đồng bộ và hoạt động có hiệu qua, Đây là vũng có 100% các tỉnh và thành phổ trực thuộc trung ương có doanh nghiệp QLKT các hệ thống CTTL vừa và lớn.
Các CTTL nhỏ, thu lợi nội đồng chủ yếu do các tô chức là HTX dich vụ nông nghiệp QLKT (chiếm gần 90% số Tổ chức. hợp tác dùng nước). Đây là những đặc trưng tiêu biểu cho công tác thuỷ lợi (cơ sở hạ ting, hệ thống tổ. chức QLKT và tim quan trong trong phát triển kinh tế xã hội), đồng thôi cũng là các yếu tổ có mỗi iên hệ trực tiếp đến chính sich thuỷ lợi.
Do vậy, ving ĐBSH được tác giả lựa chọn để thực hiện nghiên cứu này.2 Tổng quan các vin đề nghiên cứu 1.1 Tổng quan về chính sách thủy lợi phí Noi đến chính sách ‘LP hay còn được hiểu là các chính sách, quy định liên quan đến xác định giá TLP, phí sử dung nước của các hộ đùng nước. Đây thực sự là một vấn để eựe kỳ quan trọng đối với các quốc gia trên thé giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào ngành nông nghiệp, Việc thiết lập mức thu hay miễn, giảm TLP đối với sản xuất nông nghiệp phải dựa vào điều kiện thực tiễn của từng quốc gia, đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội và mức sống của người dân để quyết định, Theo các công trình nghiên cứu cũa Easter, K. Johnson TI; Ahmad, B. 2002 [1] [2] [3] [4] cho thấy thy TLP chỉ trang ri chỉ phi vận hành và bảo dường hệ hổng tu tiêu, chi ba đắp được khoảng 20-70% cho phi vin hành và bảo đường hệ thống, kể cả các nước công nghiệp phát tiễn, tỷ lệ thu hồi chỉ phi đầu tư cũng rất thấp như Canada và Italy và một số nước thi gần như là miễn hoàn toàn phí sử dụng nước, Ngay cả tong cùng một quốc gia thì đặc thủ xác định mức tha TLP như thể nào cũng là một vin đề phúc tạp do sự khác nhau về điều kiện địa h xã hội, kin tế va vai td của sản xuất nông nghiệp trong nền kính tế, Theo K.
William Easter and Yang Liu |5] thì TLP có vai trồ quan trọng: 6) Đó là nguồn thu để trang trả cho chỉ phi vận hành, để đảm bảo các dự án, các công ty thủy nông có được nguỗn tải chính bén vũng, đồng thời còn là nguồn thu hồi vốn đầu tư xây dựng ban đầu, từ đó có thé đầu tw cho các HTTL mới trong tương lai; (ii) Phí thủy lợi sẽ khuyến khích các hộ sử dụng nước có ý thức sử dụng nước tiết kiệm hơn trong việc giảm tỷ lệ sử dụng nước trên một đơn vị sin phẩm đầu ra, khuyển khích sự gia tăng giá tị kinh tế cho một đơn vị nước sử dung hoặc đạt được đồng thời ca hai mục tiêu trên. Do đó nghiên cứu về vin đề TLP luôn là một đề tài hip dẫn đổi với các chuyên gia cũng như những nhà hoạch định chính sách trên thể giới và Việt Nam. Hign nay vin để phát triển nông thôn gắn liên với lĩnh vực thủy lợi đang là mỗi quan tâm hàng đầu ở Việt Nam, vi tim quan trọng trong phát trién nông thôn, tạo công ăn việc làm cho hơn 70% din số của Việt Nam, hoạt động sản xuất trong lĩnh vực nông. nghiệp, hay sự phát triển bin vững và giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị vi nông thôn đáp ứng được yêu cầu trong đời sống của nhân dân, đôi hỏi nông thôn phái có một cơ sử hạ ting đảm bảo, mà rước hết là thuỷ lợi - một lĩnh vực sơ bản có tính chất quyết định.
Thuỷ loi dip ứng các yêu cầu về nước, một trong những điều kiện tiên quyết dé tin tại và phát tiển cuộc sống cũng như các loại hình sản xuất, đồng thời huỷ lợi góp phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển bén vũng của đất nước, không ngừng nang cao đời sống cả về Kinh tế vi Văn hoá - Xã hội Việt Nam là n it nước di lên từ nông nghiệp, do đó ngành thủy lợi có vai trỏ quan trọng đối với nén kinh tẾ của đất nước, công tác thủy lợi là biện pháp quan trong hàng đầu trong việc khôi phục sản xuất nông nghiệp, mở rộng diện tích canh tác, tăng vụ, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Công tác thủy lợi nước ta căn bản đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nông nghiệp, phòng, chống vả giảm nhẹ thiên tai ở các vùng, miền trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiêt trước yêu cầu đồi hỏi ngày một cao của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đắt nước. và những bất lợi về thời tiết do biển đổi khi hậu toàn cầu gây ra, nhiệm vụ của công tác thủy lợi đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.
Yêu cầu đặt ra là nhà nước sẵn phải đ ra những chính sách phi hợp để giải quyết các vẫn để liên quan đến công tắc thủy lợ, liên quan đến đại bộ phận người lao động sin xuất nông nghiệp. Chính sách TLP là một trong những chỉnh sách lớn của Đảng và Nha nước với mục tiêu giúp. công tác thủy lợi đạt hiệu quả cao. “Trải qua 66 năm (1949 - 2015) chính sách TLP ở nước ta đã qua 7 lần thay đổi, gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115 nhằm sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị dinh số 143/2003/NĐ-CP, Nghỉ định này đã cổ sự thay đổi cơ bản về việc miễn.
Chính sách miễn TLP là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta đối với người nông dân, nhằm giảm gánh nặng, cải thiện đời sng của người din, tuy nhiên khi thực th chỉnh sich miễn giảm TLP cồn nhiều bắt cập xảy ra và còn là vẫn đề gây tranh cdi giữa các nhà khoa học ở nước ta hiện nay, Nghỉ định 115 thực thi được 4 năm có những bắt cập, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 67/2012/NĐ-CP ngày 10/09/2012 sửa đổi bé sung một số điều của Nghị định 143/2003/NĐ- P và thay thể Nghị định 115/2008/NĐ-CP. Tuy nhiên nghị định 67/2012/NĐ-CP vẫn còn nhiều bắt sập đối với đặc thù khác nhau của từng địa phương và loại hình địch vụ tưổi trong nông nghiệp, có thé trong tương lai gin sẽ tiếp tục phải u chủ th. Nghiên cứu về chính sich miễn giảm TLP, diy là một vin đề lớn, khó khăn và phức tạp. Hiện nay cũng chưa có nhiều các nghiên cứu đầy di nào về đánh giá và đo lường tác động của chính sách miễn giảm TLP.
Ting quan về chất lượng dich vụ tưới và ý thức hộ dùng nước trong quản lý Khai thác công trình thay lợi Để một chính sách thực sự có hiệu quả ta phải đánh gid được các tác động của chính sách đó đối với cá thành phần, đối tượng có kinh Chúng ta phải có một cái nhìn tổng thể và khách quan nhất đối với chính sich đó. Với mỗi một chính sich khi được ban hành đều có những mặt tch cực và hạn chế, chính sich miễn giảm TLP dé là một chính sich của Đăng và Nhà nước với mục đích là *Khoan súc dân", trợ giáp người nông dân, đặc biệt đối với ng lớp lao động cổ thu nhập thấp hiện nay trong xã hội. Đó là một hủ trương đồng din, nhưng cũng có nhiễu đánh giả tri chiều từ các nhà khoa học, nhà quản lý và người dân về tắc động của chỉnh sich thủy lợi, đó là các câu hỏi được các nhà khoa học, quản lý đặt ra là liệu khi miễn giảm. “TLP thì hiệu quả quản lý, hiệu quả tưới có được nâng cao, hay nói đúng hơn là CLDV' tưới nông nghip tốt hơn không? Trước đây, khi chưa có chính sich miễn giảm TLP, các công ty khai thác thủy nông coi đối tượng khách hing chính của mình là các hộ dùng nước và cung cấp dịch vụ tưới đến các hội ing nước để thu TLP.