CHƯƠNG 1: QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Bảo hiểm xã hội 1.1 Khái niệm về Bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay đã được phổ biến ở tất cả các nước trên thế giới, đây là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, không mang tính chất kinh doanh thương mại mà chủ yếu là tính nhân đạo và nhân văn cao cả. Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng như trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những biến cố đã được con người tính toán khoa học và được dự báo trước; con người luôn luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân như: thiên tai, tai nạn giao thông, tai nạn trong lao động sản xuất, ốm đau, bệnh dịch …. Những bất trắc, rủi ro đó gây ra và đem đến cho con người những tổn thất, hậu quả to lớn cả về mặt kinh tế lẫn môi trường sinh thái và môi trường xã hội. Chính vì vậy mà con người đã phải đưa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa, hạn chế và khắc phục những biến cố rủi ro đó.
Những biện pháp phòng ngừa, né tránh và hạn chế rủi ro thường được con người chủ động đưa ra các quy định cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và trong đời sống sinh hoạt xã hội để buộc mọi đơn vị, mọi tổ chức và mọi thành viên trong xã hội phải tuân thủ thực hiện. Chẳng hạn, để phòng chống bão, lũ Nhà nước ban hành Luật về đê điều, để phòng tai nạn giao thông Nhà nước ban hành Luật giao thông đường bộ, đường thủy, hàng không … Mặt khác, theo quy luật sinh học thì con người thường phải trải qua các giai đoạn là: con người được sinh ra, được nuôi dưỡng đến lúc trưởng thành, lao động cống hiến sức lực, trí tuệ cho xã hội, cho gia đình, tiếp đến là giai đoạn hết tuổi lao động, già, yếu, bệnh tật được xã hội, gia đình và lớp người kế tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cho đến khi chết. Con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở, đi lại… Để thỏa mãn những nhu cầu đó, con người phải lao động để mang lại thu nhập. Nhưng trong toàn bộ cuộc đời, không phải lúc nào con người cũng có đủ sức khỏe và cơ hội lao động để có thu nhập.
Trái lại, trong thực tế có rất nhiều những rủi ro bất lợi ngẫu nhiên đến với con người như ốm đau, tai nạn, suy giảm sức khỏe, c 8 mất việc làm… Trong khi đó con người luôn cần có những nhu cầu về vật chất và tinh thần. Thậm chí trong một số trường hợp, nhu cầu chi tiêu mới nảy sinh còn tăng thêm như chi phí khám, chữa bệnh, chăm sóc nuôi dưỡng … Chính vì vậy, để chủ động khắc phục những khó khăn, tổn thất đó, mỗi người lao động và cộng đồng xã hội cần thiết phải có một nguồn lực tài chính dự trữ để kịp thời đáp ứng nhu cầu không những cho bản thân mình, mà còn cho cả những người mình phải trực tiếp nuôi dưỡng và cho cả những người gặp phải những biến cố rủi ro (kể cả ngẫu nhiên và tất yếu) trong đời sống xã hội. Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại hai lực lượng đó là những người lao động và giới chủ (những người sử dụng lao động) Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhưng về sau họ đã phải cam kết cả việc đảm bảo cho người làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm đau, tai nạn, thai sản, tuổi già. Trong thực tế, nhiều khi các trường hợp trên không xảy ra nên người chủ không phải chi một đồng tiền nào.
Nhưng có khi lại xảy ra dồn dập, buộc người chủ phải bỏ ra một khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế, giới chủ đã dần dần không thực hiện những cam kết ban đầu, dẫn đến việc tranh chấp giữa giới chủ và người lao động. Để giải quyết mâu thuẫn này, đã xuất hiện "bên thứ ba" đóng vai trò trung gian nhằm điều hòa lợi ích giữa giới chủ và thợ. Điều này có ý nghĩa là, thay vì phải chi trực tiếp những khoản tiền lớn đột xuất cho người lao động khi họ gặp bất trắc, giới chủ có thể trích ra thường xuyên hàng tháng một khoản tiền nhỏ dựa trên cơ sở xác xuất những biến cố của tập hợp những người lao động làm thuê.
Số tiền này được giao cho bên thứ ba quản lý được tồn tích dần thành một quỹ. Khi người lao động bị ốm đau, tai nạn. "bên thứ ba" sẽ chi trả theo cam kết không phụ thuộc vào giới chủ có muốn hay không muốn. Như vậy, một mặt giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế, mặt khác người lao động làm thuê được đảm bảo chắc chắn bù đắp một phần thu nhập khi bị ốm đau, tai nạn và khi về già.
Tuy nhiên, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, năng suất lao động đòi hỏi cần được tăng lên, dẫn đến "rủi ro" lao động càng lớn. Lúc này giới thợ luôn mong muốn được bảo đảm nhiều hơn, còn ngược lại giới chủ c 9 lại mong muốn phải chi ít đi, tức là phải đảm bảo cho giới thợ ít hơn, do đó việc tranh chấp về lợi ích lại xảy ra. Trước tình hình đó Nhà nước đã phải can thiệp và điều chỉnh. Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nước, giới chủ buộc phải đứng theo, đồng thời giới thợ cũng phải đóng góp một phần vào sự bảo đảm cho chính mình.
Cả giới chủ và giới thợ đều cảm thấy mình được bảo vệ. Các nguồn đóng góp của giới chủ, thợ và sự hỗ trợ của Nhà nước đã hình thành nên Quỹ bảo hiểm xã hội. Do tập trung nên quỹ có khả năng giải quyết các phát sinh của rủi ro cho tập hợp người lao động trong toàn xã hội. Như vậy, sự ra đời của bảo hiểm xã hội là một tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai và để đáp ứng với sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi bảo hiểm xã hội ngày càng phải được củng cố và hoàn thiện trong mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới.
Vậy “bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm một phần thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội” 1.2 Chức năng của BHXH BHXH có một số chức năng chủ yếu như sau : Thứ nhất, phòng ngừa rủi ro: Với chức năng này BHXH cho phép tất cả các hoạt động kinh tế xã hội hình thành các quyền lợi đảm bảo để duy trì một chuẩn mực sống tương đối ổn định ngay cả khi trong trường hợp có sự cố bất ngờ rủi ro xảy ra. Thứ hai, an sinh xã hội : Với chức năng này rất cần thiết cho người lao động, người sử dụng lao động mà còn đảm bảo sự ổn định chính trị, an toàn xã hội cho quốc gia, đảm bảo chắc chắn đối với mọi thành viên trong xã hội gặp cảnh nghèo đói đều được cung cấp một khoản thu nhập bằng tiền cũng như các dịch vụ chăm sóc về y tế và dịch vụ xã hội đầy ý nghĩa. c 10 Hai chức năng trên này hỗ trợ cho nhau. Đảm bảo ổn định kinh tế tài chính cho người lao động, khuyến khích họ yên tâm làm việc phát huy hết khả năng, năng lực chuyên môn giúp cho nền kinh tế phát triển, ổn định xã hội, đảm bảo an toàn cho quốc gia về kinh tế chính trị và an ninh quốc phòng.
Chính vì thế mà hiện nay đã có 182 nước có luật về BHXH. Có thể nói BHXH là một trong những hoạt động mà tất cả các quốc gia đều quan tâm không phân biệt thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế xã hội. Bảo hiểm xã hội đã đóng góp vai trò to lớn trong việc bảo đảm an sinh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế, được thể hiện thông qua các tác động chủ yếu cụ thể sau: - Bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm thu nhập hoặc bị mất thu nhập do bị suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động bị mất việc làm. Đó là sự đảm bảo chắc chắn sẽ xảy ra vì mọi người khi họ bị mất khả năng lao động hoặc khi họ hết tuổi lao động, theo các điều kiện quy định của BHXH.
Đó là chức năng cơ bản của BHXH nó quyết định tính chất, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của hệ thống BHXH. - Thực hiện phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia đóng góp quỹ BHXH. Tham gia BHXH có người sử dụng lao động, người lao động và nhà nước hỗ trợ đóng góp hình thành xây dựng nên quỹ BHXH. Quỹ BHXH này được sử dụng để chi trả trợ cấp BHXH cho những người tham gia BHXH không may gặp tai nạn, rủi ro.
Thực tế chỉ ra rằng số tiền trợ cấp được hưởng thường nhỏ hơn rất nhiều so với số tiền mình tham gia, do áp dụng theo quy luật số đông, quỹ BHXH đã thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc. Sự phân phối này thể hiện phân phối thu nhập giữa những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp, giữa những người đang làm việc khoẻ mạnh với những người tuổi cao sức yếu, già cả, ốm đau đang nghỉ việc. Chức năng này của BHXH đã góp phần tạo nên sự công bằng trong xã hội mang tính nhân văn sâu sắc. - Giúp góp phần thúc đẩy, kích thích tinh thần lao động, khuyến khích người lao động hăng hái sản suất nâng cao chất lượng, năng xuất lao động tạo ra nhiều của cải cho xã hội.
Quỹ BHXH thực hiện chức năng này khi họ không may gặp phải các c 11 tai nạn rủi ro, phần thu nhập của họ bị giảm sút hoặc không còn. Sự suy giảm này đã được bù đắp một phần, hay toàn bộ từ quỹ BHXH vì vậy mà đời sống sinh hoạt hàng ngày của người lao động và gia đình họ không còn bị sáo trộn.