CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH VÀ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU 1. Tổng quan về quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu 1. Đơn vị sự nghiệp có thu 1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp có thu Theo Nghị định số 10năm 2006 của Chính phủ quy định, đơn vị hành chính sự nghiệp là các đơn vị nhận ngân sách của nhà nước để phục vụ các nhiệm vụ của nhà nước, chủ yếu là các hoạt động chính trị, xã hội.
Đơn vị sự nghiệp công lập, là đơn vị sự nghiệp do nhà nước thành lập, với chức năng là cung cấp dịch vụ và sản phẩm công ích cho xã hội, được phân biệt rõ ràng với cơ quan hành chính là chủ yếu thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Trong hệ thống cơ quan nhà nước thì đơn vị sự nghiệp chiếm một tỷ lệ lớn so với các cơ quan hành chính nhà nước. Vai trò của đơn vị sự nghiệp công trong nền kinh tế và trong đời sống xã hội là vô cùng quan trọng vì những lợi ích mà nó đem lại cho người dân. Lợi ích đó được chi trả bởi nhà nước hoặc một phần từ người dân, đem lại nguồn thu cho đơn vị.
Nguồn thu này là cơ sở hình thành các đơn vị sự nghiệp có thu với cơ chế quản lý tổ chức và tài chính đặc thù. Nói một cách ngắn gọn: Đơn vị sự nghiệp có thu là một loại đơn vị sự nghiệp công, có nguồn thu sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập, là đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng. Đơn vị sự nghiệp có thu cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Dịch vụ công là những dịch vụ có đặc tính không loại trừ và không cạnh tranh trong tiêu dùng.
Không loại trừ có nghĩa là tất cả mọi người đều có quyền sử dụng và tiêu dùng dịch vụ này, dù người tiêu dùng có trả tiền hay không trả tiền cho dịch vụ đó. Không cạnh tranh nghĩa là việc sử dụng và tiêu dùng của người này không ảnh hưởng đến sự sử dụng và tiêu dùng của người khác, một hay nhiều người cùng tham gia sử dụng, tiêu dùng thì chất lượng dịch vụ cũng ngang nhau. Ví dụ: Tiêu động khử trùng loại trừ mầm bệnh tại các khu vực công cộng, quản lý dịch bệnh 4 cho đàn gia súc, gia cầm của tỉnh, xã an toàn dịch bệnh, huyện an toàn dịch bệnh,. Theo nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11/3/2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích được xác định là sản phẩm, dịch vụ công ích khi đồng thời đáp ứng các điều kiện sau đây: - Là sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh.
- Việc sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí. - Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng giao kế hoạch, đấu thầu theo giá hoặc phí do nhà nước quy định Các lĩnh vực hoạt động của các đơn vị sự nghiệp có thu gồm có giáo dục, y tế, khoa học công nghệ, văn hóa thể thao, phát thanh truyền hình, môi trường. Phân loại đơn vị sự nghiệp có thu Để phân loại ĐVSN có thu có thể phân loại theo hai căn cứ sau: * Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động các đơn vị sự nghiệp(ĐVSN) có thu bao gồm: - Các ĐVSN có thu hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. - Các ĐVSN có thu hoạt động trong lĩnh vực y tế.
- Các ĐVSN có thu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế. - Các ĐVSN có thu hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ. - Các ĐVSN có thu hoạt động trong lĩnh vực văn hoá - thông tin truyền thông. - Các ĐVSN có thu hoạt động trong lĩnh vực thể dục thao - Các ĐVSN có thu hoạt động trong lĩnh vực xã hội.
* Căn cứ vào mức độ tự chủ nguồn kinh phí cho hoạt động thường xuyên các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm: - ĐVSN có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên: đây là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp chỉ đủ trang trải một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại vẫn phải phụ thuộc vào kinh phí do NSNN 5 cấp. Mức tự bảo đảm một phần kinh phí hoạt động thường xuyên luôn nhỏ hơn 100% và được xác định theo công thức sau: Mức tự đảm bảo chi hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp =Tổng số nguồn thu hoạt động / Tổng số chi hoạt động thường xuyên - ĐVSN có thu tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên: đây là các đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, không phụ thuộc vào NSNN và Nhà nước không phải cấp kinh phí hoạt động thường xuyên cho đơn vị. Đơn vị sự nghiệp có thu có vai trò tự chủ trong điều hành hoạt động của đơn vị, trong quản lý tài chính và xã hội hóa nguồn lực để phát triển các hoạt động sự nghiệp. Trong quá trình hoạt động, đơn vị được phép thu một số khoản phí hoặc thu từ các hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ để bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, vừa tạo nguồn tích lũy cho các hoạt động phát triển chung.
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp theo quy định trên được ổn định trong thời gian 3 năm. Sau thời hạn 3 năm sẽ xem xét phân loại lại cho phù hợp.1: Phân loại DVSN theo khả năng đảm bảo kinh phí hoạt động 1. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp có thu Đơn vị sự nghiệp công lập là những tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. 6 Khác với hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động sự nghiệp cung ứng dịch vụ cho nền kinh tế nhưng mục đích chính không phải vì mục tiêu lợi nhuận.
Nhà nước duy trì, tổ chức, tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp vào thị trường. Nhờ đó, nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo và phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế phát triển và ngày càng đạt. Đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường. Mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp là phục vụ lợi ích cộng đồng xã hội, đất nước.
Trong quá trình cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cho xã hội, các đơn vị sự nghiệp được phép tạo nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nước quy định để trang trải các khoản chi tiêu. Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của Nhà nước. Tuỳ theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các đơn vị sự nghiệp, Nhà nước áp dụng cơ chế quản lý tài chính thích hợp để các đơn vị sự nghiệp thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình phù hợp với xu hướng cải cách khu vực công trong bối cảnh hội nhập. Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp theo hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ xã hội.
Đơn vị sự nghiệp có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính. Cơ quan hành chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng qiản lý Nhà nước của mình. Các dịch vụ hành chính công được cung cấp theo luật định, với chất lượng đồng nhất cho mọi người tiêu dùng và được chi trả trực tiếp bằng ngân sách nhà nước. Dịch vụ hành chính công là chức năng của cơ quan hành chính Nhà nước, là trách nhiệm và nghĩa vụ của Bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước (chứ không có một tổ chức tư nhân nào khác) có đủ thẩm quyền thực hiện chức 7 năng đó.
Nhà nước với tư cá ch là một tổ chức công quyền phải có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế. Như vậy, quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trường, mà phản ánh quan hệ nghĩa vụ của Nhà nước và phương tiện thực hiện nghĩa vụ do xã hội công dân cung cấp. Người sử dụng có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó, nhưng phải đóng thuế để chi trả cho chúng. Chính vì vậy, cơ quan hành chính chỉ được tự chủ tài chính trong phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp (cơ chế khoán chi), không được tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu, dịch vụ và nguồn thu là cố định theo Luật.
Trong khi đó, dịch vụ của đơn vị sự nghiệp cung ứng có thể cạnh tranh với khu vực tư nhân và cung ứng theo nhu cầu nên các đơn vị này được phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình. Đặc điểm khác biệt này cho phép đơn vị sự nghiệp có thể hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính. Đơn vị sự nghiệp có những điểm khác với loại hình doanh nghiệp trong kinh tế thị trường. Các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc hạch toán kinh doanh, hướng tới mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận bằng cách tự bù đắp đủ chi phí và có lãi.
Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thị trường. Đơn vị sự nghiệp không hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường và không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình. Lĩnh vực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục vụ chính trị xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp không thể chỉ đo bằng giá trị tiền tệ hữu hình. Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và càng không hạch toán được lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội.