Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 1. Trên thế giới Ở An Độ: Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của việc bón riêng biệt và phối hợp N, P, K đối với mía tơ và mía gốc trồng trên diện tích đất phù sa ở Uttar Pradash (Jafri, 1987) cho thay: mức bón 200 N - 100 PzOs - 150 KzO dat năng suất mia và đường cao nhất. Bon 50 K2O ở các mức N và P khác nhau gây nên tinh trạng thiếu K ở vụ mía gốc tiếp theo.
Kết quả nghiên cứu anh hưởng của khoảng cách hàng va lượng bón N cho mía chín sớm trong chế độ luân canh khác nhau (Sundara và cộng sự 1989) cho thấy với kho ảng cách 60 em bón 200 N đạt năng suất mía và đường cao nhất. Tuy nhiên, mức bón có hiệu quả cao nhất là 150 N khi cây trồng trước là kê và 250 N khi cây trồng trước là ngô. Theo Yadav và cộng sự (1986) mía trồng trên đất Entisol khô hạn, ít có điều kiện tưới nước của vùng Uttar Pradesh có tỷ lệ KzO trao đối 132 kg/ha, bón 120 - 140 KzO có tác dụng tăng năng suất khá rõ. Hiệu lực của K càng được phát huy khi tưới nước, bón tăng lượng đạm và áp dụng biện pháp tủ lá.
Kết quả nghiên cứu nhu cầu K của mía trồng trên đất phù sa vùng đồng bằng Darsana, Bangladesh (Chowdhury và cộng sự, 1990) cho thấy: Năng suất đường đạt cao nhất khi bón 70 K2O đối với mía tơ và mía gốc. Tỷ lệ K trong lá lớn hơn 1,55% KaO được coi là đất có khả năng cung cấp KzO dễ tiêu đủ dam bảo mía đạt năng suất cao. Theo Shanmugam (1985) triệu chứng thiếu S của cây mía có thé khắc phục được bằng cách bón các loại phân có chứa S như Amôn Sulphat (24% S), Superphotphat (12% S) hoặc phân phức hợp amôn phosphat sulphat. Bon S liên tục có tác dụng làm tăng hàm lượng S trong đất.
Ở Queensland Australia, Chapman (1985) nhận thấy: sau nhiều năm bón S (100 kg/ha), nhu cầu bón đã giảm xuống chỉ còn 5 kg S/ha. Về giống mía, năm 1993 có 65 giống được đưa vào sản xuất theo cơ cấu giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn làm tăng năng suất, đạt 68,4 tan/ha trong vụ mia 1998/1999. Mục tiêu của An Độ đưa năng suất mía lên 100 tan/ha trên diện tích 4,15 triệu ha vào năm 2020 (Baboo, 1993; Singh and Sinha, 1993 và Buzzanell, 1996). Ở Cu Ba: Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của N, P, K bón phối hợp và riêng biệt: N (0- 150 N; P (0 - 115 PzOs); K (0 - 250 K¿O) trên đất Ferrallitic vàng có kết von ở Hanvana cho thấy: Không có sự khác biệt về năng suất mía giữa các lượng bón và các kiêu phối hợp N, P, K khác nhau.
Tuy nhiên, năng suất có xu hướng tăng khi tăng lượng bón K (Paneque và cộng sự, 1981; Reyes vả cộng sự, 1983). Trên loại đất Ferrallitic vàng, bón 120 N - 90 PzOs - 120 KạO kết hợp với 6 tấn bột đá vôi cho kết quả tốt nhất (Martinezvà cộng sự, 1986). Trên loại đất kiềm (30% CaCO2) ở Bihar, Prasad và cộng sự (1985) đề nghị bón cho mía gốc 117 N- 71 PzOs - 110 K2O khi phân tích đất có 150:20:100 (kg/ha): N - PzOs - K2O tương ứng. Trên đất đỏ, với tỷ lệ bón 2:1:2,5 ở các mức bón N (0 - 175 N): P (0 - 70 P20s): K (0 -150 K20) thì lượng bón 75 N - 30 PzOs - 75 KaO là thích hợp nhất đối với mía tơ và mía gốc 1.
Mia gốc 2 bón 125 N - 50 PzOs - 125 KO (Paneque và cộng sự, 1985). Trên các loại đất sét nặng, Torres và cộng sự (1983) đề nghị bón 75 N - 25 PzOs- 45 KaO. Ở Philippin: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và tỷ lệ bón N:KzO ở hai mức bón N (175 va 350 N) và các mức bón K (175, 350, 525 và 700 K20) cho thay: Năng suất mía và đường cao nhất khi bón 175 N phối hợp với 350 đến 525 KaO (1:2-3) và 350 N phối hợp với 175 đến 350 KzO (2:1-2) (Urgel, 1976). Kết quả thí nghiệm bón N (0 - 300 N); P (0 - 250 P20s); K (0 - 500 K20) và 0 - 4 tan/ha vôi bột (45,9% Ca) hoặc 0 - 4 tắn/ha vôi có chứa dolomit (24,06% Ca và 11,3% Mg) Choudhry và cộng sự (1984) cho biết: Năng suất đường tăng liên tục ở các mức bón N từ 0 - 300 N.
Mia không có phan ứng với P. Đối với K, mức bón 50 KzO đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Bon vôi có chứa dolomit có hiệu quả hơn đối với vôi bột, đặc biệt là đất chua thiếu Mg. Mức bón tối thích 2,5 tan/ha vôi có chứa đôlômit.
Ở Brazil: Lugo Lopez và Capo (1954) chỉ ra rằng ở các vùng khô hạn tại Purto Rico, chất lượng mía được cải thiện khi ngừng tưới 45 - 60 ngày trước khi thu hoạch. Hàm lượng đường thường thấp hơn khi lượng mưa trung bình lớn hơn trong thời kỳ gần thu hoạch. Nghiên cứu của Marinho và cộng sự (1975) cho thấy: trong nhiều trường hợp, bón N ngay cả ở mức thấp (50 N) cũng có ảnh hưởng xấu đến năng xuất mía đường. Ảnh hưởng tương tự cũng xay ra khi bón P trên 100 PaOs cho đất không thiếu P, đặc biệt là đối với mía gốc.
Riêng K không làm giảm năng suất, thậm chí còn có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng mía, ngay cả khi bón trên lượng bón giới thiệu 50 KaO. Trên loại đất Latosol đỏ vàng vùng Espirito Santo và Minas Gerai, ảnh hưởng của N (40 - 80N) thé hiện không rõ, hiệu lực của K không ổn định. Trong khi đó bón 60 và 120 PzOs có tác dụng tăng năng suất mia và đường không những đối với mía tơ mà còn có hiệu lực tồn dư đối với mía gốc 1 (Gondim và cộng sự, 1980). Trên cơ sở tông kết 34 thí nghiệm bón P, Zambello và cộng sự (1981) xác định lượng bón đạt hiệu quả kinh tế cao thay đổi trong phạm vi 0 - 110 PzOs tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương.
Đối với K, lượng bón cho mía tơ ở vùng Nam Brazil thay đổi từ 0 - 180 K2O tùy thuộc vào giá mía va giá phân bón (Orlando-Filho và cộng sự, 1981). Ở Đài Loan: Theo Ing-Jye Fang (1979) lượng bón giới thiệu cho các trang trại trồng mía thuộc Tổng Công ty Đường Đài Loan phụ thuộc vào điều kiện tưới nước và mức năng suất dự kiến. Trong điều kiện không có tưới, lượng N bón thay đổi từ 160 - 180 N tương ứng với mức năng suất 50 - 90 tan/ha. Ngược lai, trong điều kiện mía được tưới đầy đủ theo nhu cầu, lượng bón thay đổi từ 210 - 250 N, tương ứng với mức năng suất 90 - 170 tan/ha.
Lượng P bón thay đổi 0 - 125 PzOs tùy thuộc vào hàm lượng PzOs dễ tiêu và độ âm của đất. Lượng K bón cũng thay đổi tùy theo ham lượng K2O trao đổi trong đất. Dat có hàm lượng KzO trao đôi ở mức rất thấp bón 160 - 200 K20; thấp bón 120 - 160 KzO; trung bình bón 80 - 120 K20; cao bón 40 - 80 K20; rất cao đến đặc biệt cao không cần bón hoặc chỉ bón ít hơn 40 KzO (Ing-Jye Fang và cộng sự, 1981). Các giống mía khác nhau có phản ứng khác nhau với các dạng phân bón khác nhau.
Kinh nghiệm ở Đài Loan (Yang và nnk, 1959) chỉ ra rằng giống PT 42 - 52 và Nco 310 yêu cầu nhiều đạm hơn F 108 hoặc F 134 vì sự gia tang cua dam từ 78 - 156 kg/ha cho kết quả tăng dang ké số lượng gióng cho dịch và sản lượng cho cả hai giống cũ nhưng không cho cùng kết quả cho hai giống mới. Trên thực tế, bón phân cho mía dao động rất mạnh từ ít hơn 50 kg/ha đến nhiều hơn 500 kg/ha.Tuy nhiên, trong rất nhiều vùng trồng mía, số lượng trung bình là khoảng 100 - 200 kgN/ha. Nghiên cứu của Juang và cộng sự (1975) cho thấy; bón 25 kg/ha Zn có thể thu được hiệu quả kinh tế. Song hiệu lực không giống nhau khi bón cho các loại đất khác nhau.
Ở Đài Loan trong thời gian qua và hiện nay các giống mía mới ROC có năng suất cao giầu đường, thời gian chín khác nhau và đặc tính canh tác khác nhau được đưa vào sản xuất thay thế hết các giống mía cũ 10 năm một lần đã góp phần đưa Đài Loan trở thành nước có ngành mía đường phát triển mạnh trên thế giới (Taiwan Sugar, 2001 - 2002). Trong nước Theo Trần Văn Sỏi, lượng phân bón cho mía thay đổi theo loại đất tốt xấu và mục tiêu năng suất cần đạt. Nhìn chung, một vụ mía phải bón 15 - 20 tan/ha phân hữu co, 100 - 250 N. Ty lệ bón N:P20s:K20 là 2:1:1 hoặc 2:1:1,5.
Dam có thé bón 1 lần (Bon lót khi trồng); 2 lần (1 lần lót, 1 lần thúc) ho ac 3 lần (1 lần lot, 2 lần thúc) và phải đảm bảo kết thúc bón đạm 8 tháng trước khi thu hoạch. Lân bón lót 1 lần khi trồng mía tơ hoặc xử lý mía gốc. Mia tơ bón lượng P cao hơn mia gốc. Kali bón lót 1 lần khi trồng, trường hợp cá biệt bón 2 lần, bón lót khi trồng va bón thúc 1 lần khi mía đẻ nhánh hoặc khi vun gốc lần 1.
Trong tài liệu “Cây mía và kỹ thuật trồng mía ở miền Nam” (Phạm Gia Tân, 1992) cho biết: dé đạt năng xuất mía 70 - 80 tan/ha, phải bón 15 - 20 tan/ha phân chuồng, 80 - 100 N. Mia gốc phải bón tăng thêm 10 - 20% N. Dat nghèo chất hữu cơ bón tăng thêm 10 - 20% N. Ngược lại, đối với đất tương đối giầu hữu cơ giảm 10 - 20% N.
Trường hợp thiếu phân đạm có thể bón phân hữu cơ với lượng lớn (30 - 40 tan/ha) dé thay thế những năng suất không cao so với bón phối hợp N,P, K. Về cách bón: đối với mía tơ, nếu có công lao động thì chia tổng lượng N làm 3 lần bón: lót 1/3 khi trồng: thúc 1/3 khi mía bat đầu đẻ nhánh (khoảng 1 tháng sau khi trồng), thúc lần cuối 1/3 khi mia bắt đầu có gióng (khoáng 3 tháng sau khi trồng). Đối với các vùng thiếu lao động hay thời tiết khô hạn vao thời kỳ đẻ nhánh thì bón 2 lần: lót 1/2 khi trồng: thúc 1/2 còn lại sau đó khoảng 2 - 3 tháng khi có mưa. Mia gốc bón tối đa 2 lần: 1 lần khi xử lý gốc và lần 2 khoảng 2 tháng sau thu hoạch.