CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU THẦU DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG TẠI BAN QUẢN LÝ 1.1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý đấu thầu 1.1 Một số khái niệm 1.1 Khái niệm về đấu thầu Thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện trong thực tế xã hội từ xa xưa. Theo Từ điển tiếng Việt củaHoàng Phê [1]thì đấu thầu được giải thích là việc: “đọ công khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặc được bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)”. Như vậy bản chất của đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnh tranh) để được thực hiện một việc nào đó, một yêu cầu nào đó. Trên thực tế đã tồn tại một số định nghĩa về thuật ngữ đấu thầu trong các văn bản khác nhau.
Theo tại khoản 12 Điều 4 Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” [2]. Như vậy, có thể thấy, đấu thầu là quá trình chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình. Trong đó, bên mua sẽ tổ chức đấu thầu để bên bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của bên mua là có được các hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kĩ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất.
Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp mua hàng hóa, dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể. Như vậy, bản chất của đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như một sự cạnh tranh lành mạnh để được thực hiện 1 việc nào đó, một yêu cầu nào đó.2 Khái niệm về quản lý đấu thầu Quản lý đấu thầu bao gồm các hoạt động trong quy trình từ khâu lập kế hoạch đấu thầu đến tổ chức đấu thầu (chuẩn bị lựa chọn nhà thầu; tổ chức lựa chọn nhà thầu; đánh giá 7 hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất và thương thảo hợp đồng; trình, thẩm định, phê duyệt và công khai kết quả lựa chọn nhà thầu; hoàn thiện, ký kết hợp đồng), kiểm tra giám sát việc thực hiện đấu thầu. Mục đích của hoạt động kiểm tra, giám sát về đấu thầu là nhằm ngăn chặn, chấn chỉnh những sai lệch, trái pháp luật, trái mục tiêu của công tác đấu thầu, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu, giúp đơn vị thấy được những thiếu sót, yếu kém, từ đó điều chỉnh hoạt động của mình nhằm đạt được hiệu quả cao nhất. Quá trình kiểm tra này nhằm mục tiêu phát hiện những mặt tích cực cần nhân rộng, những điểm hạn chế, tồn tại cần khắc phục, là căn cứ để đánh giá công tác quản lý đấu thầu tại đơn vị chủ đầu tư.
Quản lý đấu thầu là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước đối với hoạt động đấu thầu nhằm làm cho hoạt động đấu thầu diễn ra hiệu quả, công bằng, minh bạch và kinh tế nhằm góp phần thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước [3].2 Vai trò,mục tiêu và đặc điểm của đấu thầu 1.1 Vai trò của đấu thầu a. Đối với nhà nước - Đấu thầu mang lại cho nhà nước những đầu tư mới về công nghệ, máy móc thiết bị hiện đại tạo điều kiện cho việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa của đất nước. - Là cơ sở để đánh giá đúng, chính xác năng lực thực sự của các đơn vị kinh tế cơ sở, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực diễn ra, tránh được sự thiên vị của chủ đầu tư với các nhà thầu. - Mặt tích cực nhất mà phía nhà nước thu được thông qua đấu thầu là tích lũy và học hỏi được kinh nghiệm về biện pháp quản lý nhà nước đối với các dự án đặc biệt là quản lý tài chính, tăng cường các lợi ích kinh tế xã hội khác.
Đối với chủ đầu tư - Chọn lựa được nhà thầu có năng lực đáp ứng được yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng, đảm bảo tiến độ thi công đồng thời giá thành hợp lý. Khắc phục tình trạng độc quyền về giá cả của các nhà thầu. 8 - Khắc phục tình trạng độc quyền về giá cả của các nhà thầu. Mang lại hiệu quả của dự án đầu tư cao nhất.
Đối với nhà thầu - Đảm bảo tính công bằng đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt đối xử giữa các nhà thầu. - Kích thích các nhà thầu nâng cao trình độ kỹ thuật, áp dụng công nghệ và các giải pháp thực hiện tốt nhất, tận dụng tối đa mọi nguồn lực sẵn có của mình. - Học hỏi nhiều kinh nghiệm qua thực tế, có cơ hội để nâng cao trình độ, năng lực về quản lý và khoa học công nghệ trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên. - Nâng cao uy tín và vị trí của mình trên thương trường trong nước và quốc tế.2Mục tiêu của đấu thầu - Đảm bảo tính cạnh tranh: Qua tổ chức đấu thầu đòi hỏi các nhà thầu phát huy hết khả năng của mình về trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và tiềm năng sẵn có, hoặc liên danh để cạnh tranh với các nhà thầu.
- Đảm bảo tính công bằng: Đấu thầu tạo ra được một cơ sở hợp lý để nhà thầu có điều kiện bình đẳng với nhau. Các nhà thầu có đủ điều kiện theo yêu cầu của HSMT đều có thể tham gia, không phân biệt với các thành phần kinh tế hoặc loại hình doanh nghiệp. - Đảm bảo minh bạch: Đấu thầu được tiến hành công khai thể hiện trong suốt quá trình từ mời thầu đến việc mở và xét chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng đều được thực hiện có sự kiểm tra, đánh giá của cấp có thẩm quyền theo quy định của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng. Tránh được sự thiên vị, cảm tính, đặc quyền đặc lợi, móc ngoặc riêng với nhau.
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế: Đấu thầu tạo cơ hội cho các nhà đầu tư thực hiện được dự án của mình với giá thành hạ, đảm bảo được yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng. - Nâng cao uy tín và vị trí của mình trên thương trường trong nước và quốc tế.3Đặc điểm của đấu thầu Thứ nhất: Đấu thầu là 1 hoạt động thương mại. Trong đó bên dự thầu là các thương nhân có đủ điều kiện và mục tiêu mà bên dự thầu hướng tới là lợi nhuận, còn bên mời 9 thầu là xác lập được hợp đồng mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ với các điều kiện tốt nhất cho họ. Thứ hai: Đấu thầu là 1 giai đoạn tiền hợp đồng.
Hoạt động đấu thầu luôn gắn với quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Trong nền kinh tế đấu thầu không diễn ra như 1 hoạt động độc lập, nó chỉ xuất hiện khi con người có nhu cầu mua sắm hàng hóa và sử dụng dịch vụ. Mục đích cuối cùng của đấu thầu là là giúp bên mời thầu tìm ra chủ thể có khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ với chất lượng và giá cả tốt nhất. Sau khi quá trình đấu thầu hoàn tất, người trúng thầu sẽ cùng với người tổ chức đấu thầu đàm phán, để kí hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hay xây lắp công trình.
Thứ ba: Chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ. Theo Luật thương mại 2005, trong hoạt động đấu thầu có thể xuất hiện bên thứ ba như các công ty tư vấn giúp lập hồ sơ mời thầu, chuyên gia giúp đỡ, đánh giá hồ sơ dự thầu. Tuy nhiên đây là hoạt động không qua trung gian, không có thương nhân làm dịch vụ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân khác nhận thù lao. Trong khi đó, Luật đấu thầu 2013 đã quy định thêm về tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp bao gồm đại lý đấu thầu, đơn vị sự nghiệp được thành lập và chức năng thực hiện đấu thầu chuyên nghiệp.Việc thành lập và hoạt động của đại lý đấu thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Quan hệ đấu thầu luôn được xác lập giữa 1 bên mời thầu và nhiều bên dự thầu. Nhưng vẫn có trường hợp ngoại lệ như trong trường hợp chỉ định đầu tư. Thứ tư: Hình thức pháp lý của quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu. Hồ sơ mời thầu là văn bản pháp lý do bên mời thầu lập, trong đó có đầy đủ những yêu cầu về kĩ thuật, tài chính và thương mại của hàng hóa cần mua sắm, dịch vụ cần sử dụng.
Còn hồ sơ dự thầu thể hiện năng lực, mức độ đáp ứng của bên dự thầu trước các yêu cầu trong hồ sơ mời thầu. Thứ năm: Giá của gói thầu: xét trên góc độ giá cả thì đấu thầu cần thiết phải có sự khống chế về giá, gọi là giá gói thầu hoạc dự toán được đưa ra bởi bên mời thầu theo khả năng tài chính của bên mời thầu. Bên dự thầu đưa ra giá cao hơn khẳ năng tài chính của bên mời thầu thì dù có tốt đến mấy cũng khó có thể thắng thầu. bên dự thầu 10 nào đáp ứng được các yêu cầu của bên mời thầu mà có giá càng thấp thì sẽ càng có cơ hội chiến thắng.3 Cơ sở pháp lý và trình tự tổ chức đấu thầu 1.1 Cơ sở pháp lý để thực hiện công tác đấu thầu Trong những năm qua hệ thống pháp lý liên quan đến công tác đấu thầu đã được liên tục sửa đổi cho phù hợp với thực tiễn.