phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 4 chƣơng, 10 tiết. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP TỈ NH 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý chi ngân sách nhà nƣớc cấp tỉnh. Chi ngân sách nhà nƣớc 1.
Khái niệm chi ngân sách nhà nước NSNN phản ánh hoạt động của Nhà nƣớc về phƣơng diện tài chí nh. Lúc đầu, NSNN đơn thuần chỉ phản ánh các khoản thu , chi bằng tiền của Nhà nƣớc. Càng về sau NSNN càng có vai trò quan trọng trong thƣ̣c hiện các hoạt động kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nƣớc. Thƣ̣c tế cho thấy , vai trò của ngân sách nhà nƣớc luôn gắn liền với vai trò của Nhà nƣớc theo từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Trong nền kinh tế thị trƣờng đị nh hƣớng xã hội chủ nghĩ a ở nƣớc ta, NSNN còn là công cụ để Nhà nƣớc quản lý vĩ mô và tham gia tích cực vào các quá trình quốc tế. Ngày nay, khái niệm NSNN đã đƣợc hiểu tƣơng đối thống nhất ở nhiều quốc gia. Theo Điều 1 Luật Ngân sách nhà nƣớc Việt Nam (số 01/2002/QH11 do Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002), “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước”. Về hình thức biểu hiện, NSNN là kế hoạch thu, chi của Chính phủ đƣợc Quốc hội phê chuẩn cho tƣ̀ng năm tài chí nh.
Về nội dung kinh tế, NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh giữa nhà nƣớc và các chủ thể khác trong nền kinh tế thông qua quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ tập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 trung của Nhà nƣớc khi Nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nƣớc trên cơ sở luật định. Nhƣ vậy, nói đến NSNN là đề cập đến hai loại hình hoạt động tài chính cơ bản của Nhà nƣớc, đó là hoạt động thu ngân sách và hoạt động chi ngân sách. Theo Khoản 2 Điều 2 Luật NSNN số 01/2002/QH11 đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002, chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Khái niệm trên đã chỉ ra những nội dung chi cơ bản, then chốt của NSNN.
Về bản chất, chi NSNN chính là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đƣợc tập trung vào NSNN theo các mục đích sử dụng thƣ̣c tế đã đƣợc luật đị nh. Do đó, chi ngân sách nhà nƣớc là công việc đị nh vị khoản chi cụ thể cho từng mục tiêu, từng hoạt động, từng công việc thuộc chức năng của Nhà nƣớc. Nhƣ vậy, có thể đị nh nghĩ a chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo dự toán ngân sách đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định nhằm duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo thực hiện các chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc luật định. Mục đích của chi NSNN là thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nƣớc.
Chi NSNN là nội dung của chấp hành NSNN nên thuộc trách nhiệm và quyền hạn của hệ thống cơ quan chấp hành và hành chính nhà nƣớc các cấp. Căn cứ để thực hiện chi NSNN là dự toán ngân sách hàng năm, quy định của pháp luật và định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách. Nếu hoạt động thu NSNN là Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 nhằm thu hút các nguồn vốn tiền tệ để hình thành nên quỹ NSNN thì chi NSNN là chu trình phân phối, sử dụng các nguồn vốn tiền tệ đã đƣợc tập trung vào NSNN. Do hoạt động thu NSNN vừa là tiền đề, vừa là cơ sở thực hiện hoạt động chi NSNN nên phạm vi và quy mô của hoạt động chi NSNN phụ thuộc phần lớn vào kết quả của hoạt động thu NSNN.
Quá trình của chi NSNN là sự phối hợp giữa hai quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN. Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trƣớc khi đƣa vào sử dụng. Quá trình sử dụng là quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách không trải qua việc hình thành các loại quỹ trƣớc khi đƣa vào sử dụng. Đặc điểm chi ngân sách nhà nước Ở mỗi Quốc gia khác nhau, mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, chi NSNN có những quy mô, nội dung và cơ cấu khác nhau, song, nhìn chung, chi NSNN ở các nƣớc đều có những đặc trƣng cơ bản nhƣ sau: Một là, chi NSNN luôn gắn liền với bộ máy nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nước đó đảm đương trong từng thời kỳ.
Nhiệm vụ cơ bản của chi NSNN là đáp ứng nhu cầu về tài chính cho hoạt động của bộ máy nhà nƣớc, cho phép Nhà nƣớc thực hiện đƣợc chức năng và nhiệm vụ đƣợc giao. Chính vì thế , quy mô chi , cơ cấu chi , phân cấp chi NSNN phụ thuộc vào quy mô , chƣ́c năng, nhiệm vụ , cơ cấu và phân cấp bộ máy quản lý Nhà nƣớc. Trƣớc chiến tranh thế giới thƣ́ hai , nhìn chung các nhà nƣớc không can thiệp sâu vào các quá trình kinh tế xã hội , trƣ̀ các nƣớc xã hội chủ nghĩa, nên quy mô và cơ cấu chi NSNN đơn giản và không lớn. Tƣ̀ khi Nhà nƣớc tham gia điều chỉ nh nền kinh tế , quy mô và cơ cấu chi NSNN không nhƣ̃ng tăng lên mà còn khá phƣ́c tạp.
Tuy nhiên, chi NSNN thƣờng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 xuyên phụ thuộc vào thu NSNN. Khi nguồn thu hạn hẹp, chi NSNN cũng sẽ bị thu hẹp. - Hai là, chi NSNN theo luật đị nh. Theo Luật pháp của Việt Nam , Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất có quyền quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu và phân bổ chi NSNN cho các mục tiêu quan trọng nhất.
Chính phủ là cơ quan hành pháp có nhiệm vụ quản lý và quyết định các khoản chi NSNN cụ thể cũng nhƣ phê chuẩn hạn mƣ́c của ngân sách đị a phƣơng. - Ba là, chi NSNN hướng đến lợi ích chung của quốc gia và địa phương. Các cơ quan sử dụng NSNN không đƣợc vì lợi ích cục bộ của địa phƣơng mình mà sử dụng NSNN đi ngƣợc lại lợi ích của quốc gia và địa phƣơng. Hơn nƣ̃a, do chi NSNN có mục tiêu duy trì ổn định và phát triển đất nƣớc lâu dài, vì lợi ích của nhân dân và của toàn xã hội, nên chi NSNN phải đƣợc kiểm soát nghiêm ng ặt để tránh sự lạm dụng , tham ô, tham nhũng của nhƣ̃ng ngƣời quản lý và sƣ̉ dụng NSNN.
- Bốn là, các khoản chi NSNN phần lớn đều mang tính không hoàn trả hoặc hoàn trả không trực tiếp, thể hiện ở chỗ không phải mọi khoản chi NSNN đều tƣơng x ứng với quy mô thu NSNN từ các địa phƣơng và chủ thể xác định. - Năm là, hiệu quả của chi NSNN được đo lường ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về mặt kinh tế , xã hội, lẫn chính trị và ngoại giao. Thông thƣờng ngƣời ta đánh giá hiệu q uả sử dụng các khoản chi của NSNN trên các mặt điều tiết nền kinh tế thị trƣờng nhƣ kiểm soát lạm phát , hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ các tầng lớ p dân cƣ có thu nhập thấp , xây dƣ̣ng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội , thiết lập các quan hệ ngoại giao thân thiện…. Chi NSNN không đƣợc đánh giá dƣ̣a vào lợi í ch cục bộ của các cơ quan sƣ̉ dụng NSNN.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 - Sáu là, các khoản chi NSNN phù hợp với sự vận động của các phạm trù giá trị khác như tiền lương, giá cả, lãi suất, tỷ suất hối đoái, tín dụng… 1. Cơ cấu chi ngân sách nhà nước Cơ cấu chi NSNN là mục lục các khoản chi mà NSNN thƣờng phải đáp ứng trong năm tài chính. Thƣ̣c tế cho thấy, các khoản chi NSNN hàng năm rất đa dạng và phong phú, bao gồm nhiều cách phân loại khác nhau. * Nếu căn cứ vào tính chất khoản chi thì chi NSNN được chia thành hai loại chủ yếu là chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên.
- Chi đầu tƣ phát triển là khoản chi NSNN để đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng KT-XH, phát triển sản xuất nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trƣởng kinh tế. Theo khoản 1, Điều 3, Nghị định 60/2003/NĐ-CP, các khoản chi đầu tƣ phát triển gồm: chi đầu tƣ xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT-XH không có khả năng thu hồi vốn; chi đầu tƣ và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính nhà nƣớc; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nƣớc theo quy định của pháp luật; chi bổ sung dự trữ nhà nƣớc; chi đầu tƣ phát triển thuộc các Chƣơng trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nƣớc; các khoản chi đầu tƣ khác theo quy định của pháp luật. - Chi thƣờng xuyên là khoản chi nhằm thực hiện nhiệm vụ thƣờng xuyên của Nhà nƣớc về quản lý các mặt của đời sống xã hội. Đây là các khoản chi mang tính ổn định, định kỳ, lặp đi lặp lại.
Theo khoản 1, Điều 3, Nghị định 60/2003/NĐ-CP thì các khoản chi đƣợc xếp vào loại chi thƣờng xuyên gồm: chi đảm bảo các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, các sự nghiệp xã hội khác; chi các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.