Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Mai Lan (Khoa Kinh tế - Luật, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Tình) được thực hiện dựa trên bối cảnh thực tiễn của nền kinh tế thị trường Việt Nam sau khi Luật Cạnh tranh năm 2004 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2005. Quảng cáo thương mại được xác định là công cụ xúc tiến thương mại và phương thức cạnh tranh quan trọng giúp các chủ thể kinh doanh tiếp cận khách hàng. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông, thị trường đã phát sinh nhiều biểu hiện tiêu cực như quảng cáo so sánh trực tiếp, quảng cáo bắt chước, quảng cáo gian dối hoặc gây nhầm lẫn. Mặc dù Luật Cạnh tranh 2004 đã xếp hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh vào nhóm các hành vi bị cấm, song hiệu quả điều chỉnh thực tế chưa cao, các vi phạm diễn ra ngày càng tinh vi và khó kiểm soát. Xuất phát từ thực tiễn đó cùng quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt (một doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực quảng cáo và in ấn), tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ chính:
- Đi sâu phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo, đồng thời đánh giá thực trạng áp dụng các quy phạm pháp luật này tại Công ty Cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt.
- Đề xuất hệ thống quan điểm và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh, góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác lập như sau:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật điều chỉnh hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh và thực trạng thi hành các quy phạm này tại Công ty Cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt.
- Phạm vi nghiên cứu: Về thời gian, khóa luận khảo sát hệ thống pháp luật từ thời điểm Luật Cạnh tranh 2004 được ban hành đến nay (kết hợp dữ liệu thực tiễn giai đoạn 2009–2015). Về không gian, nghiên cứu giới hạn trên thị trường Việt Nam nói chung và thực tiễn hoạt động của Công ty Cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng, tập trung chủ yếu vào pháp luật cạnh tranh.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý cốt lõi:
- Cạnh tranh không lành mạnh: Được xác định theo Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 là hành vi của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng (tương đồng với Điều 10bis Công ước Paris).
- Quảng cáo thương mại: Hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân để giới thiệu về hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ theo Điều 102 Luật Thương mại 2005 và Điều 4 Pháp lệnh Quảng cáo năm 2000 (Pháp lệnh số 39/2001/PL-UBTVQH10).
- Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh: Các hành vi bị cấm quy định tại Điều 39 và Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004, bao gồm so sánh trực tiếp, bắt chước sản phẩm quảng cáo và đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn.
- Hệ thống văn bản pháp luật áp dụng: Luật Cạnh tranh 2004, Luật Thương mại 2005 (Điều 109 về các hành vi bị cấm), Luật Quảng cáo 2012 (Điều 8 về hành vi cấm), Nghị định số 120/2005/NĐ-CP, Nghị định số 71/2014/NĐ-CP, Nghị định số 37/2006/NĐ-CP và các quy định của Bộ luật Hình sự về Tội quảng cáo gian dối.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai bao gồm:
- Phương pháp so sánh luật: So sánh, đối chiếu các quy định pháp luật cạnh tranh Việt Nam với các luật chuyên ngành (Luật Thương mại, Luật Quảng cáo) và đối chiếu với pháp luật của Liên minh Châu Âu (EU).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phân tích bản chất pháp lý của từng nhóm hành vi vi phạm, tổng hợp các tiền lệ và vụ việc thực tiễn trên thị trường.
- Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý số liệu thứ cấp từ Báo cáo thường niên của Cục Quản lý cạnh tranh và dữ liệu quản lý của Phòng Quản lý thương mại tỉnh Quảng Ninh để đánh giá thực trạng thi hành pháp luật.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong công trình gồm các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo chính thức của Cục Quản lý cạnh tranh giai đoạn 2009–2013, hồ sơ điều tra xử lý vi phạm thực tế tại Công ty Cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt và các công trình nghiên cứu trước đây (như luận văn của Đoàn Tử Tích Phước năm 2007, Đào Thị Tuyết Vân, Trương Hồng Quang).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH Ở VIỆT NAM
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận và khung pháp lý điều chỉnh hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh. Tác giả phân tích bốn cơ sở cơ bản dẫn đến sự hình thành pháp luật trong lĩnh vực này: nhu cầu kiểm soát hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhu cầu bảo vệ quyền tự do kinh doanh chính đáng (được Hiến pháp thừa nhận), yêu cầu chấp thuận các quy tắc chung trong quá trình hội nhập quốc tế (WTO) và nhu cầu duy trì môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế.
Về nội dung điều chỉnh, chương này phân loại và chỉ rõ dấu hiệu pháp lý của ba nhóm hành vi bị cấm theo Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004:
- Hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp: Là việc doanh nghiệp đưa thông tin về sản phẩm cùng loại của đối thủ nhằm khẳng định sản phẩm của mình ngang bằng hoặc vượt trội. Tác giả phân chia thành ba cấp độ: so sánh bằng (mang tính dựa dẫm), so sánh hơn và so sánh hơn nhất (tuyên bố vị trí số một). Ngoại lệ duy nhất được ghi nhận tại Nghị định số 37/2006/NĐ-CP là so sánh với hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ sau khi có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Điển hình cho nhóm này là vụ việc Acecook khiếu nại Masan liên quan đến quảng cáo mì "Tiến Vua bò cải chua" phát sóng hình ảnh so sánh vắt mì màu vàng nhạt với vắt mì màu vàng sậm kèm thông điệp về việc sợi mì bị nhuộm màu.
- Hành vi bắt chước sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn: Là việc sao chép ý tưởng, hình ảnh, âm thanh, nhạc nền nhằm gây nhầm lẫn về nguồn gốc hoặc mối liên hệ kinh doanh giữa hai chủ thể. Dẫn chứng thực tế là trường hợp Công ty Cà phê Trung Nguyên sử dụng nhãn hiệu ba chiều hình cốc đỏ của Nestlé để so sánh sản phẩm G7 với Nescafé.
- Hành vi quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn: Phổ biến ở các nội dung về giá (so sánh giá, giảm giá ảo, thanh lý), chất lượng, công dụng, bao bì, xuất xứ hàng hóa hoặc phương thức bảo hành. Tác giả dẫn chứng vụ việc mì Tiến Vua quảng cáo không chứa chất transfat gây hoang mang tâm lý người tiêu dùng, trong khi kết quả kiểm định mẫu số 10071105/107315 của Công ty Cổ phần Khoa học công nghệ Sắc Ký Hải Đăng (TP.HCM) cho thấy tỷ lệ chất transfat thực tế là 0,097%.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI MẶT TRỜI VIỆT
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng thực thi pháp luật cạnh tranh trên bình diện tổng thể và tại một đơn vị kinh doanh cụ thể.
Trên quy mô toàn quốc, tác giả dẫn chứng số liệu từ Báo cáo thường niên năm 2013 của Cục Quản lý cạnh tranh: Trong năm 2013, Cục đã tiến hành điều tra và xử lý 24 vụ việc liên quan đến cạnh tranh không lành mạnh (gồm 03 vụ khởi xướng năm 2013 và 21 vụ khởi xướng năm 2012). Trong số đó, hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh chiếm tỷ trọng lớn:
- 02/03 vụ việc khởi xướng năm 2013 liên quan đến quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh (01 vụ bán hàng đa cấp bất chính).
- 17/21 vụ việc khởi xướng năm 2012 liên quan đến quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh (03 vụ bán hàng đa cấp bất chính, 01 vụ gây rối hoạt động kinh doanh).
- Cục đã ra quyết định xử lý 20 vụ việc, thu về ngân sách nhà nước tổng cộng 650.000.000 đồng tiền phạt và án phí xử lý vụ việc cạnh tranh.
Bên cạnh đó, chương này phân tích vụ việc vi phạm của Công ty TNHH Panasonic Việt Nam (năm 2008) khi quảng cáo dòng máy điều hòa không khí Envio I2 và Envio P2 có khả năng "bất hoạt đến 99,9% vi khuẩn và nấm mốc" và tủ lạnh tăng 12% vitamin. Quá trình điều tra kết luận doanh nghiệp vi phạm Điểm a Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004 do chỉ mới thử nghiệm kháng khuẩn trên 02 loại vi khuẩn (Staphylococcus và Escherichia Coli), nội dung quảng cáo đưa thông tin gây nhầm lẫn về công dụng sản phẩm.
Về thực tiễn tại Công ty Cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt (VIETSUN – thành lập ngày 15/01/2009, Giám đốc: Vũ Thanh Tùng, địa chỉ: Số 82 Kênh Liêm, TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, MST: 5701038868):
- Về quảng cáo so sánh: Tháng 12/2015, tại triển lãm hội chợ tỉnh Quảng Ninh, công ty sử dụng hình ảnh minh họa chất lượng in của mình bên cạnh hình ảnh minh họa sản phẩm của một công ty khác không xác định để làm nổi bật tính năng vượt trội. Dù không vi phạm so sánh trực tiếp do sản phẩm đối chiếu không xác định danh tính đối thủ, tác giả đánh giá hành vi này vẫn tiềm ẩn rủi ro lệch chuẩn đạo đức kinh doanh.
- Về hành vi đưa thông tin gian dối, gây nhầm lẫn: Đầu năm 2011, Cục Quản lý cạnh tranh đã điều tra và kết luận công ty có hành vi quảng cáo thổi phồng tính năng, chất lượng của 02 sản phẩm (máy in và mực in) trên truyền hình và website, có nội dung sai lệch so với hồ sơ công bố tiêu chuẩn. Ngày 10/08/2011, Cục Quản lý cạnh tranh ra quyết định xử phạt vi phạm Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh với mức phạt 15.000.000 đồng và buộc chấm dứt hành vi vi phạm.
- Về hậu quả pháp lý: Tác giả hệ thống hóa chế tài áp dụng gồm:
- Trách nhiệm hành chính: Căn cứ Nghị định số 120/2005/NĐ-CP và Nghị định số 71/2014/NĐ-CP, phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, tịch thu tang vật, thu hồi lợi nhuận bất chính và buộc cải chính công khai.
- Trách nhiệm hình sự: Cấu thành Tội quảng cáo gian dối theo Bộ luật Hình sự (xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm khi gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính/kết án chưa xóa án tích mà tái phạm).
- Trách nhiệm dân sự: Bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 120/2005/NĐ-CP.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI QUẢNG CÁO NHẰM CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH
Chương 3 trình bày các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi:
- Quan điểm hoàn thiện: Hoàn thiện pháp luật phải bám sát vai trò thúc đẩy cạnh tranh công bằng, phù hợp với sự phát triển của môi trường kinh doanh và tiến trình hội nhập quốc tế.
- Giải pháp về phía Nhà nước:
- Trong hoạt động xây dựng pháp luật: Cần sớm ban hành một Nghị định hướng dẫn chuyên biệt quy định chi tiết về hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh; làm rõ tiêu chí xác định hành vi "so sánh trực tiếp" và "so sánh gián tiếp"; bổ sung quy định rõ ràng về cơ quan và quy trình thẩm định nội dung kinh tế - kỹ thuật của quảng cáo để xác định yếu tố gian dối hoặc gây nhầm lẫn.
- Trong hoạt động thực thi pháp luật: Củng cố thẩm quyền và cơ sở vật chất cho Cục Quản lý cạnh tranh; mở rộng các chi nhánh đại diện và phối hợp chặt chẽ với 41 Hội bảo vệ người tiêu dùng tại các địa phương; nâng mức phạt tiền nhằm bảo đảm tính răn đe thực tế.
- Giải pháp về phía doanh nghiệp: Nâng cao nhận thức pháp luật cạnh tranh cho ban quản trị và người lao động; chủ động thuê chuyên gia hoặc luật sư cố vấn pháp lý; thiết lập quy trình kiểm duyệt nội dung tiếp thị, trung thực trong công bố thông tin kỹ thuật hàng hóa nhằm bảo vệ uy tín thương hiệu lâu dài.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và chỉ ra những kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với dữ liệu thực tế:
| Nhóm dữ liệu / Nội dung |
Dữ kiện ghi nhận trong khóa luận |
Nguồn gốc / Cơ sở văn bản |
| Xử lý vi phạm cạnh tranh năm 2013 |
Điều tra, xử lý 24 vụ việc (19 vụ quảng cáo không lành mạnh); xử phạt 20 vụ việc, thu 650.000.000 đồng ngân sách. |
Báo cáo thường niên 2013 của Cục Quản lý cạnh tranh |
| Vi phạm thực tế tại VIETSUN (2011) |
Xử phạt hành chính 15.000.000 đồng do quảng cáo sai lệch tính năng máy in và mực in trên truyền hình/website. |
Quyết định xử lý ngày 10/08/2011 của Cục Quản lý cạnh tranh |
| Sai phạm công bố hàm lượng transfat |
Quảng cáo không chứa transfat nhưng mẫu thử có tỷ lệ 0,097% transfat. |
Phiếu phân tích số 10071105/107315 của CTCP Sắc Ký Hải Đăng |
| Sai phạm quảng cáo Envio I2/P2 (2008) |
Quảng cáo diệt 99,9% vi khuẩn nhưng chỉ thử nghiệm với 02 chủng (Staphylococcus và E. Coli). |
Kết luận điều tra của Cục Quản lý cạnh tranh |
Khóa luận đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật tập trung vào ba trụ cột:
- Xây dựng nghị định hướng dẫn chi tiết các tiêu chí nhận diện hành vi quảng cáo cạnh tranh không lành mạnh, giải quyết bất cập khi Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004 mới chỉ dừng lại ở việc liệt kê.
- Quy định rõ thẩm quyền và quy trình kỹ thuật thẩm định nội dung quảng cáo gian dối.
- Kiện toàn cơ chế thực thi, nâng cao vai trò giám sát của Cục Quản lý cạnh tranh và mạng lưới các Hội bảo vệ người tiêu dùng.
Về mặt đóng góp học thuật, công trình đã khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước đây (vốn chỉ phân tích tổng quát luật cạnh tranh hoặc nghiên cứu ví dụ đơn lẻ) bằng việc kết hợp lý luận pháp lý đa ngành với khảo cứu trường hợp thực tế tại một doanh nghiệp địa phương (Công ty Mặt Trời Việt tại Quảng Ninh), qua đó làm rõ những vướng mắc phát sinh từ nhận thức pháp luật đến áp dụng chế tài tại doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Công trình tập trung chủ yếu dưới góc độ các quy phạm của Luật Cạnh tranh 2004, chưa mở rộng phân tích sâu sự chồng chéo với toàn bộ hệ thống các văn bản chuyên ngành khác. Dữ liệu khảo sát thực tiễn tại doanh nghiệp chỉ giới hạn tại một đơn vị duy nhất trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh với nguồn dữ liệu thứ cấp chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2009–2013.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khóa luận chỉ ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu cơ chế xác định và xử lý đối với các hành vi quảng cáo so sánh gián tiếp; hoàn thiện quy trình phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa - quảng cáo trong việc thẩm định nội dung kỹ thuật số liệu tiếp thị.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên và giảng viên ngành Luật học, Luật Kinh tế: Sử dụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên đề về pháp luật cạnh tranh, các chế định xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
- Cán bộ pháp chế và quản trị doanh nghiệp: Tham khảo các dấu hiệu nhận diện hành vi vi phạm tại Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004 cùng các bài học từ vụ việc thực tế (vụ Masan, Trung Nguyên, Panasonic, VIETSUN) để chủ động phòng ngừa rủi ro pháp lý trong hoạt động tiếp thị, xúc tiến thương mại.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống phân tích cấu thành pháp lý của ba nhóm hành vi cấm trong quảng cáo (so sánh, bắt chước, gây nhầm lẫn) kèm phân tích các mức độ trách nhiệm pháp lý (hành chính, hình sự, dân sự).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân loại hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh thành những nhóm nào theo Luật Cạnh tranh 2004?
Khóa luận căn cứ Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004 để phân loại thành 03 nhóm hành vi: (1) So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác; (2) Bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng; (3) Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về giá, số lượng, chất lượng, công dụng, xuất xứ, phương thức phục vụ hoặc bảo hành.
2. Vụ việc vi phạm của Công ty Cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt năm 2011 được văn bản ghi nhận như thế nào?
Đầu năm 2011, công ty quảng cáo 02 sản phẩm máy in và mực in trên truyền hình và website có nội dung sai lệch so với hồ sơ công bố tiêu chuẩn và thổi phồng tính năng thực tế. Ngày 10/08/2011, Cục Quản lý cạnh tranh ra quyết định xử phạt vi phạm Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh mức 15.000.000 đồng và buộc đơn vị chấm dứt hành vi vi phạm.
3. Theo số liệu của Cục Quản lý cạnh tranh năm 2013 nêu trong khóa luận, kết quả xử lý các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh đạt được những con số nào?
Trong năm 2013, Cục Quản lý cạnh tranh đã điều tra và xử lý 24 vụ việc (gồm 19 vụ việc liên quan đến quảng cáo không lành mạnh), ra quyết định xử phạt 20 vụ việc, thu về ngân sách nhà nước tổng số tiền phạt và án phí xử lý vụ việc cạnh tranh là 650.000.000 đồng.
4. Khóa luận dẫn chứng những vụ việc thực tế nào để minh họa cho hành vi so sánh trực tiếp và gây nhầm lẫn về chất lượng trên thị trường?
Khóa luận phân tích vụ việc Acecook khiếu nại Masan về quảng cáo mì Tiến Vua bò cải chua (so sánh vắt mì màu vàng nhạt và vàng sậm), vụ kiểm định chất transfat trong mì Tiến Vua (thực tế chứa 0,097% transfat), vụ Cà phê Trung Nguyên sử dụng nhãn hiệu cốc đỏ của Nescafé và vụ Panasonic quảng cáo tính năng diệt 99,9% vi khuẩn của máy điều hòa Envio I2/P2.
5. Chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh theo quy định được viện dẫn trong khóa luận gồm những mức phạt nào?
Căn cứ Nghị định số 120/2005/NĐ-CP và Nghị định số 71/2014/NĐ-CP, mức phạt tiền cơ bản từ 15.000.000 đồng đối với từng hành vi vi phạm, và phạt tiền từ 30.000.000 đồng nếu thuộc trường hợp hàng hóa đặc thù hoặc có quy mô quảng cáo phát tán từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên, kèm biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện và buộc cải chính công khai.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Mai Lan đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản và thực trạng điều chỉnh pháp luật đối với hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích số liệu của Cục Quản lý cạnh tranh và khảo cứu trường hợp xử lý vi phạm cụ thể tại Công ty Cổ phần Công nghệ và Thương mại Mặt Trời Việt, tác giả chỉ ra những bất cập trong việc thiếu các tiêu chí định lượng và nghị định hướng dẫn chi tiết. Công trình đưa ra hệ thống giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện văn bản lập pháp, nâng cao năng lực của cơ quan quản lý đến việc xây dựng ý thức tuân thủ pháp luật cạnh tranh của cộng đồng doanh nghiệp.